Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 07:09 GMT+7

Ký ức một thời lửa đạn

Biên phòng - Tôi trò chuyện với Thượng tá Nguyễn Anh Đoan, nguyên Phó phòng Quân báo, Quân khu 3 tại nhà riêng của ông. Giữa tháng 4 lịch sử, xem báo đài đưa tin về cuộc tổng tiến công thần tốc, quyết thắng những ngày mùa xuân của 40 năm trước, ông không khỏi bồi hồi xúc động. Ký ức về một thời lửa đạn, về những ngày tiến quân giải phóng Quảng Nam, Nha Trang mà ông trực tiếp tham gia lại ùa về trong tâm trí người cựu binh già.

248x310_9-1.JPG
Đồng chí Nguyễn Anh Đoan.
Điều tôi ấn tượng ở người lính già này là trí nhớ tuyệt vời. Cho đến bây giờ, chiến tranh đã lùi xa mấy chục năm, nhưng ông vẫn nhớ rất rõ từng ngày tháng chiến đấu, từng trận đánh, giờ tiến công, người chỉ huy, những đồng đội cùng chiến đấu, người còn, người mất trong trận đánh... Trong suốt câu chuyện với tôi, thỉnh thoảng ông đọc thơ, những vần thơ do ông sáng tác ngay tại chiến trường, sau mỗi trận đánh ca ngợi sự kiên cường, anh dũng của đồng đội.

Ông Đoan nhập ngũ năm 1965, vào Trung đoàn 9, lúc đó do cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu mang quân hàm Thiếu tá là Chính ủy. Sau 6 tháng huấn luyện, tháng 12-1965, đơn vị ông được lệnh đi B, vào chiến đấu tại mặt trận Trị Thiên. Ông kể: Tháng 9-1966, đơn vị tôi đánh trận đầu tiên, sau 15 phút, chúng tôi tiêu diệt gọn chi khu quận lỵ Hải Lăng, bắt sống tù binh, thu toàn bộ vũ khí của địch. Từ ngày 30-1 đến 31-3-1968, Quân giải phóng tiến hành tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, tại nhiều thành phố, thị trấn, thị xã. Trung đoàn của ông Đoan được lệnh phối hợp với các đơn vị chủ lực khác đánh chiếm TP Huế. Khi đó, địch bố trí lực lượng ở đây rất mạnh gồm 1 sư đoàn Anh cả Đỏ, 1 sư đoàn bộ binh Mỹ, Sư đoàn 1 của ngụy và một sư đoàn Kỵ binh bay của Mỹ. Lực lượng của ta chia làm 3 hướng tiến vào TP Huế, đánh chiếm các căn cứ trọng yếu của địch. "Bị tấn công bất ngờ, địch hoảng loạn, chống cự yếu ớt và bỏ chạy. Trung đoàn tôi được giao nhiệm vụ đánh chiếm cột cờ Phú Văn Lâu. Trận đánh bắt đầu từ 2 giờ đến 7 giờ sáng thì chúng tôi diệt gọn địch. Trong ngày mở màn, ta chiếm được toàn bộ TP Huế. Tuy nhiên, ngay sau đó, địch tìm mọi cách chiếm lại các địa bàn đã mất bằng cách tăng cường lực lượng bộ binh, xe tăng, xe bọc thép. 25 ngày đêm chiếm giữ TP Huế diễn ra vô cùng ác liệt, cả ta và địch đều giành giật từng con phố, ngôi nhà nhỏ. Trong những ngày chiến đấu kiên cường đó, đại đội tôi hy sinh 18 đồng chí, 6 người bị thương. Trung đoàn tôi có 90 người, đến khi rút ra chỉ còn 16 người. Có nhiều người anh dũng chiến đấu tới tận hơi thở cuối cùng" - Ông Đoan ngậm ngùi nhớ lại những đồng đội đã ngã xuống vì Tổ quốc.

Cuối năm 1968, ông Đoan cùng đơn vị còn tiếp tục đánh trận càn tại xã Phong Bình, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế, ông bị thương ở đầu nhưng vẫn kịp rút về căn cứ trên núi. Sau trận đánh này, ông được điều ra Bắc học trường Sĩ quan Đặc công. "Chúng tôi được học kỹ thuật leo cột, chui luồn vào công sự, trận địa, học đánh máy bay..." - Ông Đoan nhớ lại. Nhân dịp này, ông được gia đình mai mối, nên duyên với một cô gái nết na cùng làng. Ngày cưới, ông vẫn ở trên đơn vị, mọi việc chuẩn bị ở nhà đều do người thân lo. Mãi tới tận buổi chiều, ông mới tranh thủ về nhà làm lễ kết hôn. Ở với người vợ mới cưới một đêm, sáng hôm sau, ông quay lại đơn vị ngay. Tháng 3-1970, kết thúc khóa học, đúng dịp tết âm lịch ông tiếp tục được điều đi B. Trong thời gian chuẩn bị, ông được tranh thủ về nhà thăm vợ đúng 1 tuần. Sau đó ông đi biền biệt 7 năm không tin tức, mãi tới khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ông mới trở về quê gặp lại người vợ trẻ vẫn chung thủy đợi chờ. Hai năm sau, năm 1977, vợ chồng ông mới có được niềm hạnh phúc chào đón con trai đầu lòng.

Trở lại chiến trường B năm 1970, ông Đoan mang quân hàm Thiếu úy, thuộc biên chế Tiểu đoàn 402, Đặc công Quân khu 5. Đơn vị ông đánh trận đầu tiên tiêu diệt gọn địch ở căn cứ núi Ông Sầm năm 1970. Sau trận đánh này, ông được Chủ tịch nước tặng Huân chương Giải phóng hạng Ba. Những năm tháng lăn lộn ở chiến trường B, ông đã chỉ huy đơn vị đánh theo cách đánh của đặc công, bí mật, bất ngờ, luồn sâu, đánh hiểm, giành chiến thắng trong nhiều trận đánh lớn nhỏ khác nhau như trận đánh giải phóng Tiên Phước (Quảng Nam), 5 lần tấn công sân bay Chu Lai, diệt 6 khẩu pháo, kho xăng và nhiều máy bay trực thăng của địch... Tháng 8-1974, trên cương vị Đại đội trưởng Đại đội 3, Tiểu đoàn Đặc công 409, Quân khu 5, ông chỉ huy đơn vị đánh căn cứ Ô Vuông, tiếp đó là Dương Đế, Đổng Chai... Chiến thắng của các trận đánh đó đã giúp mở rộng vùng giải phóng, tạo thuận lợi cho các mặt trận khác góp phần tạo thế và lực cho quân ta tiến tới giải phóng miền Nam.

Có một điều đặc biệt là ông Đoan không hề nhắc tới những khó khăn, gian khổ của chiến tranh mà ông nếm trải trong suốt 10 năm vào sinh ra tử trên chiến trường. Tôi khơi gợi, hỏi thế nào ông cũng chỉ nói vẻn vẹn một câu: "Ngày đó, gian khổ ác liệt vô cùng. Chiến tranh bao giờ cũng có mất mát, đau thương. Tôi may mắn hơn nhiều đồng đội khác là vẫn còn được sống". Người lính đặc công này vẫn còn nguyên vẹn ký ức về những ngày tháng lịch sử trong chiến dịch giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước mùa xuân 1975. Ông hào sảng kể: Tình hình chiến trường rất khẩn trương. Ngày 23-3-1975, chúng tôi đánh sân bay Kỳ Bích và tiến vào làm chủ thị xã Tam Kỳ. Trước khí thế tấn công của ta, tinh thần của địch rất rệu rã, hoảng sợ. Chúng cởi bỏ quần áo, chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi bỏ chạy. Địch vứt quần áo, súng ống đầy đường. Trái ngược với tinh thần của địch, bộ đội ta khí thế hừng hực, tiến công như thác đổ. Thị xã Tam Kỳ đỏ rực cờ đỏ sao vàng, người dân reo mừng phấn khởi. Sáng 24-3, Tam Kỳ hoàn toàn được giải phóng, tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta giải phóng các huyện lỵ xung quanh tiến tới giải phóng toàn tỉnh Quảng Nam. Chúng tôi nhanh chóng tiếp quản Tam Kỳ rồi ngay sau đó lại bàn giao cho các đơn vị khác để tiến về Nha Trang".

Ông Đoan kể tiếp: "Đơn vị chúng tôi đánh từ đèo Rù Rì xuống dinh tỉnh trưởng Nha Trang. Lúc đó địch chống cự rất yếu ớt, vứt bỏ vũ khí, quân trang đầy đường. Nhìn thấy chúng tôi, người dân phấn khởi, reo mừng. Họ bắt tay, hân hoan chào đón. Nhiều người hái dừa mang cho chúng tôi. Ngày 2-4, Nha Trang được giải phóng, chúng tôi cử bộ đội vào lầu Bảo Đại, ra Cầu Đá chốt giữ" - Người lính già nhớ lại.

Sau năm 1975, ông Đoan ra Bắc tiếp tục công tác. Năm 1979, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 43, Sư đoàn 328 lên biên giới chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Năm 1981, ông được cử đi học ở Liên Xô. Về nước, ông được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Quân báo, Đặc khu Quảng Ninh. Sau này, Đặc khu Quảng Ninh được hợp nhất vào Quân khu 3, ông được bổ nhiệm làm Phó Phòng Quân báo, Quân khu 3. Chiêm nghiệm lại sự nghiệp quân ngũ của mình, ông Đoan bảo: "Cả cuộc đời, tôi đã trải qua những năm tháng chiến đấu gian khổ nhưng rất vinh quang. Nếu cho tôi chọn lại, tôi vẫn muốn được làm người lính".

Sau chiến tranh, niềm vui lớn nhất đối với ông là đồng đội vẫn luôn nhớ tới mình. "Thỉnh thoảng, đồng đội, cơ sở cách mạng cũ ở tận Quảng Nam, Đà Nẵng vẫn tìm về đây thăm tôi" - Ông Đoan chia sẻ.
Bích Nguyên

Bình luận

ZALO