Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 08:06 GMT+7

Ký ức ngày về Hà Nội

Biên phòng - Tôi đến phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội tìm gặp Đại tá, cựu chiến binh Đàm Tái Hưng. Tuổi cao, đôi tai giờ nghe không còn rõ nhưng trí nhớ của ông vẫn còn tinh anh. Ông nói, trong cuộc đời quân ngũ hơn 40 năm của mình, có 2 sự kiện ông không bao giờ quên, ấy là lần có mặt tại Đền Hùng nghe Bác Hồ nói chuyện và về tiếp quản Thủ đô Hà Nội ngày 10-10-1954, cách đây vừa tròn 60 năm.

wt9d_8-1.JPG
Đại tá Đàm Tái Hưng.
Bất chấp tuổi tác, khi nhắc đến ký ức về Hà Nội, ông bỗng sôi nổi hẳn lên. Ông kể: Sau ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, cán bộ của Đại đoàn Quân Tiên Phong được quán triệt một nhiệm vụ vô cùng quan trọng: Tiến về giải phóng Thủ đô. Ai cũng mong ngày ấy đến càng nhanh càng tốt. Ngày 17-9-1954, đơn vị đang đóng quân ở Phùng (Đan Phượng) chờ lệnh về tiếp quản Thủ đô, Đại đội trưởng Đàm Tái Hưng được lệnh nhận nhiệm vụ mới.

Ông nghĩ chắc là dịp này được về Hà Nội, nhưng khi ra đến cầu Phùng, đoàn xe lại rẽ theo hướng đi Sơn Tây để lên Việt Trì. Tuy không biết công việc sắp tới là gì, nhưng ai cũng xác định quyết tâm phải cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ. Đêm đó, đơn vị ông ngủ trong một làng nhỏ thuộc xã Hy Cương, ngay dưới chân Đền Hùng. Khoảng 8 giờ, ngày 19-9, ông và đồng đội xếp hàng lên Đền Giếng, trong lòng ai cũng hồi hộp. Bỗng cửa đền mở, Bác Hồ tươi cười bước ra trông hiền từ, đẹp như một ông Tiên trong truyện cổ tích. Hôm ấy, Bác nói chuyện với bộ đội khá dài, nhưng ông Đàm Tái Hưng nhớ nhất câu: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".

Ngay sau đó, đơn vị ông hành quân từ Phú Thọ về đóng quân tại vị trí cũ ở thị trấn Phùng. Lúc đó, ông mới 26 tuổi nhưng đã là Đại đội trưởng Đại đội 201, Tiểu đoàn 175, Đại đoàn Quân Tiên Phong. Đêm 9-10, cả đơn vị hầu như không ai ngủ. Người chưa một lần đặt chân đến Hà Nội thì tò mò, háo hức; người đã từng biết về Hà Nội hoặc sinh ra ở Hà Nội thì hồi hộp, vui sướng được gặp lại gia đình, người thân sau nhiều năm xa cách. Với người Đại đội trưởng trẻ tuổi Đàm Tái Hưng thì về Hà Nội tức là về nhà. Bởi làng của ông ngay sát Hà Nội, từ nhỏ ông đã được bố mẹ cho ra  Hà Nội ăn học. Ký ức về 60 ngày đêm bám trụ Hà Nội, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh vẫn còn tươi nguyên trong ông.

Giờ G đã đến, chiếc đồng hồ trên tay Đại đội trưởng Đàm Tái Hưng chỉ vào con số 3, Đại đội báo thức, bộ đội từ trong các nhà dân khẩn trương ra nơi tập họp. Ông đi kiểm tra một lượt hàng quân. Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội được nghỉ ngơi, ăn uống tốt, giờ ai cũng hồng hào, khỏe mạnh trong bộ quân phục mới, trên ngực đeo Huy hiệu Chiến sỹ Điện Biên. Từ Phùng, đơn vị ông tiến về Hà Nội theo hướng Vân Canh, qua Cầu Diễn, thẳng ra Cầu Giấy, đến Cửa Bắc. Từ Cửa Bắc, đoàn quân hùng dũng tiến vào thành Hà Nội. Hai bên đường từ Mai Dịch đến trung tâm thành phố có đoàn quân đi qua, nhân dân vẫy cờ hoa, reo hò, nồng nhiệt chào đón. Đồng bào hô vang: Hồ Chủ tịch muôn năm!

Ông còn nhớ mãi hình ảnh các thiếu nữ Hà Nội mặc áo dài trắng, áo dài hoa đủ màu sắc; nam thanh niên mặc sơ mi đẹp, lịch sự mang hoa tặng bộ đội. Có chỗ, mấy thanh niên vừa hát theo tiếng đàn Acooc, vừa reo hò chào đón bộ đội. Ba giờ chiều hôm ấy, lần đầu tiên ông được dự buổi chào cờ lịch sử tại sân vận động Maizin (nay là sân Cột Cờ). Đứng dưới hàng quân, vừa hát Tiến quân ca, ông vừa khóc.

Sinh năm 1928 tại Vân Canh, Hoài Đức, Hà Nội, năm 17 tuổi, chàng thanh niên Đàm Tái Hưng tham gia giành chính quyền ở địa phương. Năm 1946, ông xung phong vào bộ đội, gia nhập Trung đoàn 66, Liên khu 3. Cũng trong năm 1946, ông xung phong vào đội quân quyết tử chiến đấu bảo vệ Thủ đô. Hai năm sau, ông là học viên khóa 4 Trường Sỹ quan Lục quân, sau đó là học viên khóa 1 Trường Sỹ quan Pháo binh. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Đại đội phó rồi Đại đội trưởng Đại đội 201 pháo binh, Đại đoàn 351 phối thuộc cho Đại đoàn bộ binh 308. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông là Trưởng phòng Pháo binh Quân khu 4. Năm 1976, ông được điều động về làm giáo viên Khoa Lịch sử, Học viện Quốc phòng, cho đến lúc nghỉ hưu.

Đại tá Đàm Tái Hưng là một nhà giáo có năng lực, tâm huyết và yêu nghề. Ông là tấm gương tự học tập không mệt mỏi, sử dụng thành thạo tiếng Trung, tiếng Pháp, giỏi về Hán Nôm, là đồng tác giả của nhiều công trình lịch sử, sách lịch sử quân sự. Tiêu biểu là các cuốn: Di tích thành phố Hà Nội, Danh nhân Quân sự Việt Nam, Từ Liêm đại khoa bảng... Trên bàn làm việc của ông lúc nào cũng bộn bề sách báo, tài liệu.

Ông Đàm Tái Hưng có 4 người con đều thành đạt. Con trai cả là cán bộ cao cấp trong lực lượng không quân, 3 người con khác đều có học vị cao trong lĩnh vực kinh tế. Nhiều năm nay, gia đình ông đều đạt danh hiệu công dân kiểu mẫu của Thủ đô Hà Nội.
Nguyễn Đình Phượng

Bình luận

ZALO