Biên phòng - Từ những câu thơ, đơn giản chỉ như những dòng ghi lại xúc cảm chân thực với bao khía cạnh đau nhói nhưng cũng đầy hào sảng của chiến tranh, như những trang nhật ký chiến trường tưởng chỉ dành cho bản thân người viết, nay đã được tập hợp lại thành 2 tập thơ với gần 200 bài mang tên "Quê hương" và "Hương đất". Như chính tác giả Nguyễn Hồng Minh (nguyên Trợ lý thanh niên Tiểu đoàn 18 An ninh vũ trang - TP Hồ Chí Minh), người đã có những năm tháng trực tiếp sống và chiến đấu trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ chia sẻ, anh cũng không nghĩ mình lại nhận được nhiều sự đồng cảm đến vậy.
| |
| Nhà thơ Nguyễn Hồng Minh (thứ hai từ phải qua) trong buổi lễ ra mắt 2 tập thơ "Quê hương" và "Hương đất". |
Đó là những cái ôm ngập tràn nước mắt của đồng đội; là những bản phổ nhạc chỉ sau ít phút của nhiều nhạc sỹ, trong đó có cả những nhạc sỹ có tiếng khắt khe. Là người may mắn có mặt tại buổi ra mắt hai tập thơ của Nguyễn Hồng Minh tại Hội Nhà văn Việt Nam, tôi được nhiều văn nhân "rỉ tai" rằng, đây là một "hiện tượng lạ", bởi tác giả là người đầu tiên không phải là hội viên được Hội Nhà văn Việt Nam giới thiệu thơ.
Nhà thơ Vũ Quần Phương, nguyên Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn đánh giá, thơ Nguyễn Hồng Minh không cầu kỳ, chau chuốt mà giản dị, trong sáng nhưng khúc chiết. Thơ vẫn giữ được tính hồn nhiên, giãi bày được tình thực thông qua những đề tài vĩnh cửu gắn liền với chiến tranh. Thơ Nguyễn Hồng Minh đa dạng nhiều mảng đề tài: Tình yêu lứa đôi, tình yêu quê hương, đất nước, tình đồng chí, đồng đội...
Với tôi, khi thẩm thơ Nguyễn Hồng Minh, tôi thực sự ấn tượng với những bài anh viết về người phụ nữ. Trong chiến tranh với bao gian khổ, khốc liệt như vậy, nhưng Nguyễn Hồng Minh vẫn dành cho người phụ nữ những quan sát tinh tế, đồng cảm với những điều thật tế nhị: "Chúng em ở đây soi chải đầu bằng nước/ Bom đạn rung gương rạn vỡ rơi/ Quý nhất ở đây vải xô, bồ kết/ Chút xà phòng chuyện "con gái" anh ơi...".
Đó là những cô gái tuổi 18, đôi mươi còn e ấp như những nụ hoa chớm nở, vẫn còn quen với hơi ấm mẹ cha, nay phải đối mặt với vô vàn sự thiếu thốn. Nguyễn Hồng Minh đã không ngần ngại mà diễn tả với khía cạnh con người nhất: "... Con gái Trường Sơn hay thẹn thùng xấu hổ/ Chút xao lòng thèm hơi ấm mong manh/ Nên "sâu sắc như cơi đựng trầu" đành chịu/ Anh hiểu cho phận phụ nữ trời sinh" (Con gái Trường Sơn).
Nguyễn Hồng Minh cũng đã từng chứng kiến cả tiểu đội với những cô gái đẹp như trăng tròn ấy mãi nằm lại chiến trường chỉ sau một tiếng nổ "Đất hắt lên đỏ ối bầu trời". Hình ảnh những cô gái thanh niên xung phong mũ tai bèo, tóc tết đuôi sam làm cọc tiêu, ngọn đuốc chỉ đường cho từng đoàn xe qua trong đêm tối mịt mù bụi lửa, trong ánh sáng chớp lóe của đèn pha và loạt bom đạn kẻ thù mà miệng vẫn tươi như hoa dường như đã trở thành đề tài bất tận...
Nhưng xúc cảm bật ra ngay lập tức khi nắm bàn tay con gái mềm mại vẫn còn vương hơi ấm, làm cho những câu thơ của Nguyễn Hồng Minh thật ám ảnh. Anh ví họ như cành hoa trinh nữ, còn nguyên vẹn sự trong trắng, thẹn thùng: "Loạt bom rung/ Em ra đi mùa xuân bất tử/ Tả tơi cây rừng xơ xác sườn đồi/ Tôi nắm tay em/ Bàn tay nhỏ máu ngậm ngùi/ Có cành hoa trinh nữ đang nở em ơi..." (Hoa xấu hổ).
Nguyễn Hồng Minh cũng giống như nhiều nhà văn, nhà thơ chiến trường khác, hình ảnh người phụ nữ trong chiến tranh luôn khiến anh đau đáu, nhất là sự chờ đợi, sự chờ đợi kéo dài, dằng dặc mỗi đêm thâu: "Chồng đi thưa vắng cánh thư/ Dõi theo tóc nhạt bạc mùa đạn bom/...Nhẵn mòn cối giã đêm rơi/ Nén quằn hạt gạo tả tơi thóc gầy/ Chồng đi biền biệt chân mây/ Chị tôi gánh cả đắng cay héo mòn/...Trời xa lửa đạn ngút trời/ Bóng đêm nhòa dáng chị tôi ngóng chờ..." (Gửi chị tôi).
Tác giả chia sẻ, trong một lần về thăm nhà, nửa đêm tỉnh giấc, anh thấy chị mình ngồi trên bậc cửa, ánh trăng khuya hắt bóng. Và cho đến nay, bao nhiêu năm tháng đã qua đi, chị anh giờ đã không còn lẻ bóng thì hình ảnh ấy vẫn trở về trong anh, nguyên vẹn cảm xúc mỗi khi nghĩ đến.
Với một người đã được hít thở bầu không khí của chiến tranh, Nguyễn Hồng Minh hiểu rằng, ngoài lý tưởng cách mạng, tinh thần yêu nước nồng nàn, chính tình yêu vô bờ của hậu phương, nỗi nhớ da diết người yêu, người bạn gái mà mỗi người lính mang theo trong hành trang của mình là sức mạnh vô song khiến chúng ta đánh bại mọi kẻ thù.
Đó là nỗi nhớ không phải chỉ trong một đêm, một khắc chợt đến mà là nỗi nhớ khắc khoải trong suốt chiều dài của cuộc trường chinh: "Nỗi nhớ em khi trăng tròn nhớ bến/ Lúc ồn ào mưa rũ lá đêm thâu/ Khi nôn nao con đường bom nổ chậm/ Ngóng cồn cào pháo sáng rực hỏa châu". Để rồi người lính khẳng định: "Mang tình yêu em thắp dài chiến dịch/ Biến nhớ thương bằng chiến thắng kẻ thù/... Anh càng hiểu năm tháng dài em đợi/ Bởi tình yêu mình trong đất nước em ơi" (Em sẽ đợi anh về).
Vượt qua những gì trần tục, tình yêu và nỗi nhớ trong chiến tranh thật đẹp và thánh thiện, để trong bao điều thảm khốc của chiến tranh, họ vẫn luôn yêu đời, luôn nhìn thấy những điều tươi rói. Nguyễn Hồng Minh bảo anh biết ơn cuộc sống, biết ơn những năm tháng được xông pha trận mạc, bởi quãng đời đó đã khiến anh thấy tâm hồn mình thật bao dung, rộng mở và nhân văn, để bây giờ sống trong xã hội mà như nhiều người lo lắng là có quá nhiều bon chen, quá nhiều sự xuống cấp thì anh vẫn chưa từng thất vọng, mà trái lại, luôn tin yêu nó.
Những tình cảm, sự thương yêu đùm bọc của những người mẹ, người chị trên mỗi chặng dừng chân của người lính cứ ngân mãi trong anh như một bản tình ca: "Hành quân đến Vĩnh Giang/ Quầng sáng xa đất lửa/ Nhà mẹ nghèo trống cửa/ Đợi các con đi về/ Nền đất quét phẳng lỳ/ Giát giường tre mát ghê/ Chiếu cói sờn trải sẵn/ Võng thưa neo hè quê" (Đêm Vĩnh Giang).
Những ký ức bi tráng và hào sảng của chiến tranh chưa bao giờ thôi nguôi ngoai trong Nguyễn Hồng Minh, để đến bây giờ, khi chiến tranh đã là quá khứ, anh vẫn tìm về nó qua thơ: "Tôi coi thơ như khoảng lặng cuộc đời, là niềm vui, là nỗi đau trăn trở khi viết về đồng đội...".
Những tàn dư của chiến tranh mà bất cứ đâu đó cũng có thể gặp phải, luôn khiến anh đau đáu, để rồi nhà thơ vẫn âm thầm dõi theo, âm thầm làm những việc bằng thực tâm mà không cần tô vẽ: "Bốn mươi năm mờ mắt mẹ già/ Ngóng tin con trở lại/ Mẹ ơi! Đừng buồn con đi mãi/ Bạn thay về lặng lòng mẹ nỗi đau/...Bốn mươi năm là gì?/ Nơi bình yên chúng tôi ở lại/ Trong mắt mẹ già, nụ cười em dại/ Sống hòa bình hiểu giá chiến tranh" (Đồng đội).
Nguyễn Hồng Minh bảo, mỗi bài thơ với anh là một câu chuyện thực tế mà anh đã sống, đã chứng kiến và xúc cảm với nó, bởi vậy đọc lại bài thơ nào, tôi cũng thấy mắt anh rưng rưng. Chiến tranh là gian khổ, là mất mát, nhưng chính cái gian khổ ấy đã cho Nguyễn Hồng Minh thật nhiều điều, để đến bây giờ, khi đã là một bác sĩ, một doanh nhân thành đạt, Nguyễn Hồng Minh vẫn luôn giữ được cái tâm với nghề.






