Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 12:27 GMT+7

Làm rõ chức năng, nhiệm vụ của BĐBP trong quản lý nhà nước về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

Biên phòng - LTS: Bên hành lang Quốc hội, phóng viên báo Biên Phòng đã có cuộc trao đổi với Đại tá Nguyễn Hoài Phương, Chỉ huy trưởng BĐBP Tây Ninh, đại biểu Quốc hội khóa XIII xung quanh dự thảo Luật nhập cảnh, xuất cảnh cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam được các đại biểu Quốc hội thảo luận tại Hội trường chiều 28-11.

 93laif.gif Đại biểu Nguyễn Hoài Phương (Tây Ninh) phát biểu trên hội trường.

Phóng viên: Từ thực tiễn công tác quản lý cửa khẩu, kiểm soát xuất nhập cảnh của BĐBP, đồng chí đánh giá thế nào về tính cấp thiết của dự luật trên?

Đại biểu Nguyễn Hoài Phương: Qua thực tiễn công tác quản lý xuất nhập cảnh cho thấy công tác quản lý nhà nước về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài (NNN) tại Việt Nam bộc lộ một số hạn chế. Các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại, hoạt động của NNN còn chưa thống nhất, cũng chưa quy định cụ thể và đầy đủ các vấn đề.

Việc ban hành Luật nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của NNN tại Việt Nam là cần thiết, nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của NNN, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng. Đồng thời, khi Luật đi vào cuộc sống sẽ tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế của đất nước, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia giữ gìn trật tự, an toàn xã hội cũng như tạo môi trường ổn định cho phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Kế thừa, phát triển một số nội dung của Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của NNN tại Việt Nam, Dự thảo Luật đã làm rõ những quy định ở những văn bản dưới luật mà qua thực tế đã cơ bản ổn định và phù hợp (quy định về thị thực, cấp chứng nhận tạm trú… tại Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam và các Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành); Bổ sung những điểm mới như: quyền, nghĩa vụ của cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam, của tổ chức, cá nhân trong hoạt động nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

Phóng viên: Tại phiên thảo luận Tổ, ngày 15-11-2013, Dự thảo Luật đã nhận được nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ và chặt chẽ hơn những qui định trong công tác quản lý xuất, nhập cảnh để bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Đồng chí có ý kiến gì về vấn đề này?

Đại biểu Nguyễn Hoài Phương: Bên cạnh những mặt đạt được là cơ bản, chủ yếu, một số nội dung trong dự thảo Luật cũng cần nghiên cứu, xem xét để hoàn thiện thêm cho phù hợp với thông lệ quốc tế, đường lối đối ngoại của Đảng và thực tế hoạt động quản lý xuất nhập cảnh nói chung và quản lý xuất nhập cảnh đối với NNN nói riêng.

Từ những tri thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về công tác quản lý cửa khẩu, kiểm soát xuất nhập cảnh của BĐBP trong những năm qua, theo chúng tôi một số thuật ngữ chưa thống nhất với các văn bản pháp luật đã ban hành (như Luật Biên giới quốc gia; Pháp lệnh BĐBP; Luật Quốc tịch và các Nghị định, Thông tư liên quan); một số thuật ngữ chưa thật sự rõ nghĩa, có thể gộp lại hoặc kế thừa những khái niệm đã có, đã được kiểm nghiệm ở thực tiễn. Cụ thể như các thuật ngữ: “Quá cảnh”, “Cửa khẩu”, “Hộ chiếu”, “Giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu”, “Thị thực” và các khái niệm “Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài”, “Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam”… (Điều 4 của dự thảo Luật)

Về thủ tục mời, bảo lãnh người nước ngoài nhập cảnh tại cơ quan có thẩm quyền của Bộ Ngoại giao (Điều 14), theo chúng tôi nên chỉnh sửa, bỏ yêu cầu “cần nêu rõ cửa khẩu” mà chỉ cần quy định “cần nêu rõ thời gian nhập cảnh và lý do đề nghị cấp thị thực tại cửa khẩu” (Khoản 4) vì Pháp lệnh năm 2000 đã bỏ quy định phải đi đúng cửa khẩu nhập cảnh ghi trong thị thực và hiện nay các cửa khẩu quốc tế của Bộ Công an và Quốc phòng đều được nối mạng.

Đối với thủ tục mời, bảo lãnh người nước ngoài nhập cảnh tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an (Điều 15), tôi đề nghị bổ sung vào Khoản 5 thêm cụm từ “hoặc thông báo” cho cơ quan kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu quốc tế thực hiện”. Bởi Cục Quản lý xuất nhập cảnh của Bộ Công an chỉ quản lý cơ quan kiểm soát xuất nhập cảnh tại các sân bay quốc tế, còn các cửa khẩu quốc tế biên giới đất liền và cảng biển thì do BĐBP quản lý. Ở đây nghĩa là thông báo cho cơ quan quản lý cửa khẩu, kiểm soát xuất nhập cảnh trực thuộc BĐBP (Cục Cửa khẩu) để chỉ đạo tại cửa khẩu quốc tế liên quan.

Đối với các trường hợp được cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế (Điều 17), dự thảo Luật cần bổ sung thêm trường hợp nhận thị thực tại cửa khẩu đối với trường hợp “người nước ngoài không có cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước mời đón có nhu cầu vào Việt Nam không quá 15 ngày”. Trong thực tiễn, để giải quyết những trường hợp này, lãnh đạo Bộ Công an và Bộ Ngoại giao đã có ý kiến thống nhất về chấn chỉnh công tác giải quyết cho người nước ngoài sử dụng thị thực D nhập cảnh Việt Nam được Tổng cục An ninh - Bộ Công an thông báo tại Công văn số 488/A18- P2 ngày 13/8/2009. Qua quá trình triển khai 4 năm qua đã tạo điều kiện thuận lợi cho khách vào Việt Nam du lịch, không có vụ việc phức tạp nảy sinh.

Bên cạnh đó, Điều 17 của dự thảo Luật mới chỉ quy định về các trường hợp được cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế mà chưa thấy quy định về thủ tục cấp, vì vậy, theo chúng tôi nên bổ sung thêm một điều vào chương II của dự thảo Luật quy định về “Thủ tục cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế”.

Trong chương III và IV quy định về điều kiện, trường hợp và thẩm quyền về nhập cảnh và xuất cảnh nhưng chưa thấy quy định về thủ tục, vì vậy theo chúng tôi, dự thảo Luật cần bổ sung các điều “Thủ tục nhập cảnh” (chương III) và “Thủ tục xuất cảnh” (chương IV) để quy định rõ quyền, nghĩa vụ của cơ quan kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu.

Phóng viên: Theo đồng chí có những quy định nào trong dự thảo Luật liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của BĐBP cần được bổ sung, chỉnh lý, làm rõ?

Đại biểu Nguyễn Hoài Phương: Một vấn đề cấp thiết trong qui định Thẩm quyền chưa cho nhập cảnh (Điều 20) cần xác định rõ chủ thể có quyền chưa cho nhập cảnh đối với Đồn biên phòng cửa khẩu là Đồn trưởng. Vì theo pháp luật hiện hành của Nhà nước ta và các quy định của Quân đội có liên quan thì chủ thể cao nhất ở Đồn Biên phòng cửa khẩu là Đồn trưởng, người được Đảng, Nhà nước, quân đội giao cho những quyền hạn trong phạm vi chức trách và chịu trách nhiệm trước pháp luật, cấp ủy, người chỉ huy cấp trên và cấp ủy cấp mình về toàn bộ các hoạt động của đơn vị theo phạm vi chức trách, nhiệm vụ.

Bên cạnh đó, khi điều chỉnh rõ chủ thể ở Khoản 1 cũng sẽ xác định rõ ràng hơn chủ thể được trong quy định “Người có thẩm quyền ra quyết định chưa cho nhập cảnh thì có thẩm quyền giải tỏa chưa cho nhập cảnh” (quy định tại Khoản 5, Điều 20 của dự thảo Luật) và “Người ra quyết định chưa cho nhập cảnh, giải tỏa chưa cho nhập cảnh chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình” (Khoản 6, Điều 20 của dự thảo Luật) ở đây là ai?

Từ những phân tích trên, theo chúng tôi, để chặt chẽ hơn, Khoản 1, Điều 20 nên quy định là: “Đồn trưởng Đồn Công an cửa khẩu Bộ Công an, Đồn trưởng Đồn Biên phòng cửa khẩu Bộ Quốc phòng có thẩm quyền quyết định chưa cho nhập cảnh đối với các trường hợp quy định tại các khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Luật này”.

 Tôi cũng thấy còn nhiều vấn đề cần giải thích, làm rõ vấn đề NNN có được tạm trú ở khu kinh tế cửa khẩu (qui định tại Khoản 4, Điều 26 dự thảo Luật) nếu khu kinh tế cửa khẩu là xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền. Bởi tại Khoản 5, Điều 26 dự thảo Luật quy định:“Người nước ngoài không được cư trú tại khu vực biên giới. Trường hợp cư trú tại thị trấn, thị xã, thành phố, khu du lịch, dịch vụ có chung đường biên giới thực hiện theo quy định của Chính phủ”.

Do đó, chúng ta cũng cần tính toán, cân nhắc, phân tích làm rõ phạm vi tạm trú của người nước ngoài trong khu kinh tế cửa khẩu (đã quy định tại Điều 18, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP) để đảm bảo tuân thủ các quy định của Luật Biên giới quốc gia. Mặt khác, thực tiễn công tác quản lý cư trú người nước ngoài trong tình hiện nay đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mới, hết sức phức tạp. Vì vậy, Ban soạn thảo nên cân nhắc, thảo luận kỹ có nên đưa Khoản 5 vào Điều 26 của Dự thảo luật.

Về Chương VII của dự thảo Luật quy định về Quản lý nhà nước về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài, theo tôi cần làm rõ hơn nữa chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành có liên quan. Đặc biệt, cần xác định rõ trách nhiệm của Bộ Quốc phòng, ở đây trực tiếp là BĐBP. Thực tiễn công tác quản lý, kiểm soát xuất nhập cảnh cho thấy, lực lượng kiểm soát nhập xuất cảnh đối với NNN tại cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính là Công an và BĐBP (trong đó BĐBP chiếm chủ yếu).

Từ năm 1995, lực lượng BĐBP đã chuyển từ Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) sang Bộ Quốc phòng nên công tác nghiệp vụ cửa khẩu nói chung và công tác kiểm soát xuất nhập cảnh nói riêng của BĐBP không chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Công an. Mặt khác, Bộ Quốc phòng cũng chưa có cơ quan chỉ đạo nghiệp vụ cửa khẩu đối với BĐBP.

Theo tôi cần làm rõ thêm tại Điều 41 chức năng, nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng (trong đó có BĐBP) đối với quản lý nhà nước về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; đối với công tác kiểm soát người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại Việt Nam; và quan trọng hơn nữa, là cần làm rõ mối quan hệ phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng đối với công tác này.

Xin trân trọng cảm ơn!

H.Long (thực hiện)

Bình luận

ZALO