Biên phòng - Hàng trăm người dân chỉ sinh sống trên những chiếc thuyền, ngôi nhà tạm ven sông. Đàn ông thả lưới, bắt cá, đàn bà dệt thổ cẩm. Tối về, gia đình quây quần bên nhau trong tiếng cười nói bi bô của trẻ nhỏ. Họ là cộng đồng người dân tộc Chăm, quê gốc vùng An Phú (An Giang) vì kế sinh nhai phải ngược dòng Vàm Cỏ Tây lên vùng thượng nguồn giáp ranh Cam-pu-chia sinh sống, lâu dần hình thành một làng Chăm nhỏ bé vùng biên giới này.

Mặc dù đã đến thị trấn biên giới Mộc Hóa, huyện Mộc Hóa, Long An rất nhiều lần nhưng đến dịp đầu năm Nhâm Thìn này, tôi mới biết ở đây có một xóm chài người Chăm sinh sống đầu nguồn sông Vàm Cỏ Tây, đoạn chảy qua xã Bình Hiệp. Cũng chẳng mất nhiều thời gian, tôi tìm đến xóm Chăm này, khi mặt trời chưa lên khỏi ngọn cây. Nắng sớm mới lên, mọi người đều hối hả bắt tay vào công việc của mình, anh Mohamad, 31 tuổi, tươi cười khoe, mình cùng nhóm bạn đi làm ăn trên, TP Hồ Chí Minh mới về tối hôm trước. Mohamad kể tên vanh vách các chợ, khu phố và cả tên đường trên TP Hồ Chí Minh cho tôi nghe. Có lẽ, nhiều người sống ở TP Hồ Chí Minh chưa chắc đã thuộc tên đường, nhất là đường sông, như anh. Chị Khoti, vợ anh, bế đứa con trai gần 2 tuổi phụ họa: “Anh ấy đi bán hàng với nhóm bạn trong xóm. Ở đây, nhiều người Chăm dệt vải thổ cẩm truyền thống của mình. Cứ mỗi chuyến, nhóm của anh ấy đi chừng nửa tháng mới về. Mọi người lấy vải thổ cẩm, chạy thuyền men theo đường thủy, lên trên đó bán cho thương lái rồi lại mua trái cây, đồ nhựa và sữa, muối mang về”.
Trong chiếc thuyền nhỏ bé dài chừng 15 mét là tổ ấm của đôi vợ chồng trẻ này, chúng tôi thấy một niềm vui nhen nhóm bởi các vật dụng thiết yếu cho cuộc sống khá đầy đủ, từ ti vi, tủ lạnh, nồi niêu, xoong chảo đến chăn màn, ga đệm... Trải tấm thảm thổ cẩm hoa văn sặc sỡ, đặc trưng của người Chăm, anh Mohamad chắp tay lạy trời đất, hướng mặt về phía Tây, quỳ ngay trên mui thuyền của mình. Chị Khoti bảo, đi buôn lâu, giờ về anh ấy phải làm lễ bù. Nhìn đôi vợ chồng trẻ vui đùa cùng đứa con ngay trên mui thuyền mà chúng tôi cũng thấy hạnh phúc lây.
Chúng tôi sang chiếc thuyền bên cạnh. Ông Issmail, 54 tuổi, quấn chiếc khăn ngang bụng, xếp chiếc lưới lại nói: “Tụi trẻ chúng có thể đi buôn bán được chứ tầm tuổi tôi, ngoài nghề chài lưới chả còn làm được gì”. Quả thực, với nhiều người Chăm sống ở đây, việc chuyển nghề là khá khó khăn, do họ ít vốn làm ăn lại không quen phong tục tập quán của những dân tộc khác. Ngày nay, việc giao lưu văn hóa giữa các dân tộc đã không còn xa lạ, nhưng những người Chăm lớn tuổi vẫn giữ thói quen sinh hoạt riêng của mình. Ông Issmail bảo, cha ông làm nghề chài lưới, nên ông quen con tôm, con cá, khúc sông, mùa nước lớn, ròng từ nhỏ, giờ bỏ cũng khó. Với lại, ông cũng đã thử lên bờ buôn bán mấy lần, cụt vốn lại bỏ xuống sông chài lưới. Ở đây, cua cá vẫn nhiều nên cuộc sống nói chung vẫn tạm ổn.
Cội nguồn - Bangsa
Theo tiếng Chăm, cội nguồn có nghĩa là Bangsa. Xét về cội nguồn của người Chăm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và nhóm người Chăm thượng nguồn sông Vàm Cỏ Tây nói riêng, nhiều sách nói rằng họ có nguồn gốc từ vùng Ninh Thuận, Bình Thuận của miền Trung. Có người nói, người Chăm có nguồn gốc từ chính vùng An Giang, bắt nguồn từ Vương quốc cổ Chămpa cách đây hơn một ngàn năm. Với cộng đồng người Chăm này, họ đã sinh sống ở vùng Vĩnh Trường (An Phú, An Giang). Trong những người Chăm nơi đây, hầu như tất cả trong số họ vẫn còn nhà cửa (dù không sinh sống) ở vùng đất trên. Vì thế, những ngày lễ, đặc biệt như tháng Ramadan, lễ hội Hát Gi, Tết Doya... là dịp để họ hành hương về thăm lại cội nguồn, quê quán.
Men theo con đường đất đỏ ngoằn ngoèo cỏ mọc hai bên, nhìn những cô gái Chăm trong trang phục váy liền áo truyền thống đang hối hả chuẩn bị xoong, nồi, đồ ăn cho chuyến hồi hương của mình, chúng tôi không khỏi vui mừng cùng họ. Với người Chăm, dù sống ở đâu, họ cũng không bao giờ vào các tiệm ăn mà phải tự nấu đồ ăn lấy. Do vậy, những chuyến hành hương của gia đình họ thường vất vả hơn. Thấy chúng tôi đưa máy ảnh lên chụp, những đứa trẻ người Chăm hớn hở chụm đầu bên ống kính. Có lẽ, chúng đang ngây ngất với viễn cảnh được đi xa, được về quê và đắm chìm trong những thánh đường rộng lớn của dân tộc mình cùng bè bạn.
Trong các ngày lễ hội hay lễ cưới, ma chay, người Chăm có tục lệ ăn uống rất linh đình. Thức ăn của họ thường ăn là cari thịt bò, cơm trắng và các loại dưa chua (củ hành, củ kiệu, củ cải trắng) và muối tiêu chanh. Quan trọng, mọi người được quyền ăn thoải mái, nhất là trẻ con. Nhưng trong các bữa tiệc của người Chăm tuyệt nhiên không có một giọt rượu nào được rót ra, vì điều đó được coi như luật định.
Chia tay ngôi làng nhỏ nơi biên giới xa xôi này, tôi ngược Quốc lộ 62 trở về thành phố; cũng là lúc những chuyến ghe thuyền của người Chăm nơi đây chuẩn bị nhổ neo về lại cố hương, trong ánh nắng ấm áp của mùa xuân phương Nam.







