Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 09:32 GMT+7

Lê Thái Tổ với “Biên phòng hảo vị trù phương lược”

Biên phòng - Gần 600 năm trước, vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi - 1385-1433), Anh hùng giải phóng dân tộc, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, người sáng lập nhà Hậu Lê đã có bài thơ bất hủ được khắc trên vách đá, trong đó có câu: 

y49r_4-1.JPG

"Biên phòng hảo vị trù phương lược
Xã tắc ưng tu kế cửu an"


Nghĩa là:

Lo việc Biên phòng cần có phương lược sẵn sàng
Giữ nền xã tắc nên tính kế dài lâu.


Năm 1418, Lê Lợi, xuất thân là hào trưởng của đất Lam Sơn (nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa) dựng cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Minh, xưng là Bình Định Vương, được nhân dân và hào kiệt khắp nơi hưởng ứng. Dưới sự lãnh đạo và tài cầm quân của Lê Lợi, nghĩa quân ngày càng phát triển lớn mạnh, trở thành đội quân tinh nhuệ, có tổ chức, kỷ luật nghiêm, gắn bó mật thiết với dân.

Trong 10 năm chiến đấu, đánh hàng trăm trận, lập được nhiều chiến công hiển hách. Sau chiến thắng Tốt Động - Chúc Động (từ ngày 5 đến 7 tháng 11 năm 1426), nghĩa quân thừa thắng tiến lên vây hãm thành Đông Quan, do Thái tử Thái bảo Thành Sơn hầu Vương Thông làm Tổng binh trấn giữ (từ tháng 11 năm 1426 đến tháng 12 năm 1427), đồng thời đẩy mạnh tiến công trên toàn bộ chiến trường.

Nhờ kết hợp sức mạnh quân sự với địch vận, nghĩa quân lần lượt đánh chiếm hoặc bức hàng các thành Nghệ An, Khâu Ôn, Điêu Diêu, Thị Cầu, Tam Giang, Xương Giang... khiến quân Minh ở Đông Quan càng bị cô lập. Trước tình hình đó, tháng 10 năm 1427, nhà Minh đưa 15 vạn quân do Liễu Thăng, Mộc Thạnh chỉ huy theo hai đường thủy, bộ sang cứu viện. Bằng trận Chi Lăng - Xương Giang (1427), nghĩa quân đã diệt gọn đạo quân của Chinh Lỗ tướng quân An Thành hầu Liễu Thăng và chém đầu viên tướng này ngay tại trận.

Sau đại thắng Chi Lăng, Lê Lợi lập tức cho người mang giấy tờ, ấn tín của Liễu Thăng lên cửa ải Lê Hoa cho Chinh nam Đại tướng quân Kiềm Quốc công Mộc Thạnh biết. Đồng thời, Lê Lợi lại cho bọn hàng binh Hoàng Phúc mang hai cái hổ phù và dấu đài ngân (ấn bạc hai tầng) của Liễu Thăng đến Đông Quan cho Vương Thông xem.

Khi nhận được ấn tín, giấy tờ của Liễu Thăng, Mộc Thạnh liền cho quân tháo chạy. Các tướng Lam Sơn là Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả đuổi theo tiêu diệt và bắt sống hơn hai vạn tên giặc. Quân giặc ở Lãnh Câu, Đan Xá chết nhiều không kể xiết. Mộc Thạnh một mình một ngựa tháo chạy.

Còn ở Đông Quan, tên tướng giặc ngoan cố và hiếu thắng Vương Thông đành phải vội vã mở cửa thành xin hàng. Lúc bấy giờ, có người vì căm giận quân Minh tàn bạo đã cúi xin Lê Lợi cho giết Vương Thông. Nhưng Lê Lợi chỉ nhẹ nhàng bảo rằng: "Phục thù báo oán vốn là chuyện thường tình của con người, nhưng người có đức thì không muốn giết hại kẻ khác.

Vả lại họ đã ra hàng. Nếu ta muốn hả cơn giận trong một lúc mà chịu tiếng chê muôn đời là giết kẻ đã hàng thì há chẳng phải là kẻ bạo chúa hay sao. Nay ta cho nghìn vạn con người được sống vừa thể hiện được cái đức của ta, vừa dứt được cái họa chiến tranh, để lại tiếng thơm cho muôn đời như thế chẳng tốt hơn sao".

Rồi Lê Lợi cấp 500 thuyền lớn giao cho Phương Chính, Mã Kỳ để chúng dẫn quân theo đường thủy về nước, cấp 2.000 cỗ xe ngựa khỏe cùng nhiều lương thảo giao cho Sơn Thọ và Hoàng Phúc dẫn quân bộ binh về phương Bắc. Còn Vương Thông thì chờ các thành giải binh xong sẽ lên đường. Lê Lợi sai người hậu đãi Vương Thông. Tới ngày mồng 3 tháng Giêng năm Mậu Thân (1428), toàn bộ quân xâm lược nhà Minh đã rút khỏi bờ cõi Đại Việt.

Ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi chính thức lên ngôi vua tại điện Kính Thiên ở Đông Kinh (Thăng Long - Hà Nội), xưng là "Thuận Thiên thừa vận Duệ văn Anh Vũ Đại Vương" hiệu là Thái Tổ, ban lệnh đại xá cho thiên hạ, đổi niên hiệu là Thuận Thiên, đặt quốc hiệu là Đại Việt và sai Nguyễn Trãi thảo Đại cáo bình Ngô ban bố cho thiên hạ cùng biết. Khi đó, Lê Lợi 43 tuổi. Đây là sự mở đầu một thời kỳ độc lập lâu dài nhất trong lịch sử nước ta.

Trong thời gian trị vì, vua Lê Thái Tổ đã đặt nền móng vững chắc cho cả một triều đại và nền độc lập phồn vinh của quốc gia Đại Việt. Việc làm đầu tiên của Lê Thái Tổ là bàn định luật lệnh. Nhà vua ra lệnh cho các quan: Tư không, Tư đồ, Tư mã, Thiếu úy, Hành khiển bàn định luật lệnh trị quân dân, cho "người làm ở lộ biết mà trị dân, người làm tướng biết mà trị quân, để răn dạy cho quân dân đều biết là phép tắc". Nhờ cố gắng đó, hai năm sau (1430), Lê Thái Tổ đã cho ban hành những điều luật đầu tiên của triều đại mình.

Tiếp đó, vua Lê Thái Tổ đã cho tổ chức đại hội các tướng và các quan văn võ để định công ban thưởng, theo công lao cao thấp mà định thứ bậc, ban biểu ngạch công thần. Đáng chú ý là trong đợt phong này, Nguyễn Trãi được phong làm quan Phục hầu, Trần Nguyên Hãn làm Tả tướng quốc và Phạm Văn Xảo làm Thái bảo.

Từ những đơn vị hành chính theo chế độ quận, huyện của nhà Minh, nhà Lê chia lại đơn vị hành chính nước ta thành 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc (tương đương với Bắc bộ ngày nay) và Hải Tây (từ Thanh Hóa vào đến Thuận Hóa). Dưới đạo là trấn, lộ, huyện, châu, đơn vị hành chính cơ sở là xã; đặt các chức Vệ quân, Tổng quản, Hành khiển... ở xã đặt xã quan. Bộ máy hành chính này ngày càng được hoàn chỉnh vào các đời vua sau, nó thực sự giúp cho việc quản lý và điều hành đất nước.

Trong thời đại trị vì, vua Lê Thái Tổ đặc biệt quan tâm đến việc bình định và củng cố miền biên cương phía Bắc và Tây Bắc. Nhà vua từng đích thân cầm quân đánh dẹp cuộc phản loạn của Đèo Cát Hãn ở miền Tây Bắc. Trên đường chinh chiến, Lê Thái Tổ đã làm bài thơ "Chinh Điêu Cát Hãn hoàn, quá Long Thủy đê" vào tháng Tư niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 - 1429:

Kỳ khu hiểm lộ bất từ nan
Lão ngã do tồn thiết thạch can
Nghĩa khí tảo không thiên chướng vụ
Tráng tâm di tận vạn trùng san
Biên phòng hảo vị trù phương lược
Xã tắc ưng tu kế cửu an
Hư đạo nguy than tam bách khúc
Như kim chỉ tác thuận lưu khan.


Dịch thơ:

Gian nan nào ngại cách non sông
Già cả mà ta vẫn vững lòng
Nghĩa khí dẹp tan mù mấy lớp
Tráng tâm san phẳng núi muôn trùng
Phòng ngừa bờ cõi cần ra sức
Giữ vững cơ đồ phải gắng công
Thác suối ba trăm dù hiểm trở
Nay xem nào khác nước xuôi dòng.


Bài thơ này đã được khắc trên vách đá.

Vua Lê Thái Tổ đã truyền dạy kinh nghiệm cho các đời sau về phương lược bảo vệ biên cương, giữ yên lâu dài bờ cõi của đất nước. Về danh nghĩa chính thống, nhà Hậu Lê là triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử nước ta với 356 năm, chia làm hai thời kỳ: Lê Sơ 100 năm (1428-1527) và Lê Trung Hưng 256 năm (1533-1789).
Đặng Việt Thủy

Bình luận

ZALO