Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 07:42 GMT+7

Lời ru Việt trên đất Lào

Biên phòng - Giữa nắng gió của đại ngàn Trường Sơn, tiếng hát của đám trẻ con cất lên vang cả bản làng. Lời hát bằng tiếng Việt giữa đất Lào làm chúng tôi ngạc nhiên và xúc động…

Đó là những ca khúc được hát bằng tiếng Việt do chị Hồ Thị Hải Âu (35 tuổi), trú tại bản Ka Túp, huyện Sê Pôn, tỉnh Sa-vẳn-na-khệt, Lào tranh thủ giờ nghỉ ngơi dạy cho đám trẻ con trong bản. Hỏi ra mới hay chị là người Việt làm dâu lâu năm trên đất Lào. Hát để nhớ về quê hương, hát để khỏi mất tiếng mẹ đẻ - chị cho biết.

"Cánh hải âu" xa xứ

Ngồi bên cánh võng đu đưa ở khu vườn ngay cạnh nhà, chị Âu kể về sự "phiêu bạt" của mình để rồi hôm nay có mặt trên đất Lào xa xôi.

Sinh ra và lớn lên ở bản Sa Lăng, xã Đakrông, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị, chị Hồ Thị Hải Âu đã may mắn hơn những người con gái của bản: Cha mẹ giàu có, chị được học hành đến nơi đến chốn. Chị cho biết, tổ tiên của chị là người Pháp. Thời Pháp thuộc, ông cố chị đã lấy vợ là người Vân Kiều và lập nghiệp ở xã Đakrông. Sau nhiều đời, anh em chị đều có những nét rất "Tây", riêng chị có khuôn mặt của người Vân Kiều. Những năm 80 của thế kỷ trước, nhà chị giàu có tiếng ở đất Đakrông.

Do đó bố mẹ tạo điều kiện cho anh chị em trong nhà được học hành chu đáo. Khác với những cô bé Vân Kiều phụ mẹ bẻ măng trên rừng, mò ốc ở sông Đakrông, chị Âu không bao giờ đụng tay đến những việc đó. Khi mới 6 tuổi, chị được nhà thờ Dòng Cứu thế ở Huế nhận nuôi ăn học, nên mùa hè năm 1986, chị khăn gói vào đất cố đô. Ở trường Dòng, chị được học thêu, học vẽ, học nhạc…

Riêng môn nhạc là chị yêu thích nhất. Mỗi lần nhớ nhà, nhớ dòng Đakrông trong xanh là chị ra cầu Tràng Tiền ngồi ngắm và hồn nhiên hát một mình. Năm 1996, chị thi đậu vào trường Quốc học Huế. "Tin mình đậu vào trường Quốc học Huế làm cả huyện Hướng Hóa (lúc đó chưa tách huyện Đakrông) ngạc nhiên. Ai cũng bảo cô bé dân tộc thiểu số mà học trường Quốc học là điều không tưởng!", chị Âu nhớ lại.

450x310_23b-1.jpg
Chị Hồ Thị Hải Âu trong vườn nhà ở bản Ka Túp. 
 
Để có thêm tiền tiêu vặt, chị nhận dạy kèm cho các em nhỏ tại các tư gia. Thu nhập không bao nhiêu, nhưng giúp chị có thêm kinh nghiệm, tự tin với mình hơn. "Lúc đầu vào Huế, mình cứ tự ti vì xuất thân là dân tộc thiểu số, giao tiếp rụt rè. Sau mấy năm, mình khẳng định được học lực cũng như lối sống, cách giao tiếp nên ai cũng thương", chị Âu cho biết.

Chị nuôi ước mơ thi đậu vào trường Y Dược để sau này làm bác sĩ, trở về quê hương giúp dân làng, nhưng ước mơ đó không thành hiện thực khi con đường học hành bị cắt ngang bằng cuộc hôn nhân chóng vánh. Chị kể: "Mùa hè năm 1998, khi vừa học xong lớp 11, mình về thăm nhà. Lúc đó, bố mình đang ốm nặng, thập tử nhất sinh. Lúc trẻ, bố mình làm ăn bên đất Lào đã kết nghĩa anh em với ông Va-la-phong Kep-say ở huyện Sê Pôn. Ông Kep-say đã cứu bố mình trong một lần bị rắn hổ cắn. Bố bảo mình theo anh A Lái, con ông Va-la-phong Kep-say về làm vợ để trả ân huệ trước kia. Thuận theo ý bố, mình gạt nước mắt theo chồng về đất Lào xa xôi, bỏ lại ước mơ cháy bỏng là trở thành bác sĩ ở đất kinh kỳ".

Dạy tiếng Việt trên đất Lào

Những ngày mới về làm dâu ở vùng đất xa lạ, ngôn ngữ bất đồng, chị nhớ lớp nhớ trường quay quắt. Chị kể: "Cứ chiều chiều nhìn dòng sông Sê Pôn cuồn cuộn chảy là mình nhớ đến sông Hương. Nước mắt mình cứ trào ra. Từ nhỏ chỉ biết học hành, lấy chồng phải theo chồng lên nương rẫy. Đôi tay chuyên cầm bút giờ cầm cuốc, cầm rựa để làm mới có cái ăn, cái mặc khiến mình trở thành người đàn bà già nua".

Sau đó, những đứa con lần lượt ra đời. Theo tiếng khóc của trẻ, chị nguôi dần những ký ức đẹp thời nữ sinh Quốc học.

"Một hôm ở trên huyện có lãnh đạo về bản, họ ghé thăm nhà mình. Họ bảo mình chữ đẹp, học hành giỏi giang, sao không dạy tiếng Việt cho cán bộ, giáo viên của huyện" - Chị kể - "Mình đồng ý ngay, tuy với mức thù lao ít ỏi nhưng được cái có thể mang những gì mình học, mình biết dạy lại cho  người khác".

Thế rồi đều đặn tuần 2 buổi, các cán bộ, giáo viên của huyện Sê Pôn thứ 7 và chủ nhật cơm gạo xuống bản Ka Túp học tiếng Việt. Lớp học đầu tiên có 10 người, học viên là những cán bộ, chiến sĩ, giáo viên, bác sĩ. Mỗi lớp học khoảng 3 tháng, sau đó họ tự trau dồi thêm để biết đọc, biết viết. "Bây giờ có nhiều người là "học trò" của mình làm "to" ở huyện, tỉnh. Họ thi thoảng có việc về bản đều ghé thăm nhà mình, xem mình như cô giáo", chị Âu kể.

Sau nhiều khóa học như thế, chị Âu trở thành "cô giáo" của hàng trăm cán bộ ở huyện Sê Pôn. Với "máu văn nghệ" ở trong người, mỗi lần nghỉ giải lao, chị thường tập cho các học viên hát những bài hát tiếng Việt. Đó là những bài hát mà chị yêu thích như các bài ca về Bác Hồ, về xứ Huế… Chị kể: "Có một lần lên huyện Mường Noòng dự đám cưới người quen. Trong chương trình âm nhạc mừng hạnh phúc, có người đàn ông mình nhìn thấy quen quen nhưng không nhớ tên lên hát. Khi lời hát tiếng Việt cất lên, mình mới nhận ra đây là "cậu" học trò học tiếng Việt thuở nào của mình. Thế là sau đám cưới, mình tìm cho được người đó để nói chuyện. Gặp một người nói được tiếng Việt trên đất Lào là thích rồi!".

Mỗi lần dỗ con, ru con ngủ, chị hò những bài dân ca học được từ thời học sinh. Lời ru của chị làm những người hàng xóm ngạc nhiên nhưng lại khiến cho đứa trẻ ngủ ngon như một phép màu! Chị cho biết: "Lúc mình ru thằng A Phong, đứa con đầu lòng, anh A Lái tròn mắt ngạc nhiên. Nghe lâu ngày anh A Lái cũng mê luôn. Cứ bắt mình hò để anh ấy ngủ hoài!".

Theo chị Âu, bây giờ người Việt sang Lào làm ăn, nói tiếng Việt rất nhiều. Chồng chị, anh A Lái làm nghề chèo đò chở khách ở bến sông Sê Pôn nên việc qua lại giữa hai nước không mấy khó khăn. Do cuộc sống áo cơm, những nương chuối, sắn cần bàn tay của chị chăm bón nên không có thời gian "đứng lớp" dạy tiếng Việt cho người Lào nữa. Tuy nhiên, những đứa con của chị đều được học tiếng Việt, nói tiếng Việt thông thạo như tiếng Lào. "Thi thoảng phải hát lên một vài bài hát tiếng Việt trong lúc lao động để mình bớt mệt mỏi và vơi đi nỗi nhớ nhà. Để những bài ca, điệu hò của tiếng mẹ đẻ không mất đi trên đất Lào", chị tâm sự.

Hiện nay, ở huyện Sê Pôn, ai có nhu cầu cần chị dạy tiếng Việt để chuẩn bị sang học bên Việt Nam đều được chị tận tình giúp đỡ. Đặc biệt, những bài hát chị yêu thích chị đều tập cho các con và trẻ trong bản. 

Xuống sông Sê Pôn để trở về Việt Nam, nhưng tôi vẫn còn nghe tiếng hát của lũ trẻ xứ Triệu Voi cứ réo rắt: "Trường của em bé bé, nằm ở giữa rừng cây hơ hơ...". Để văn hóa Việt hòa nhập trên đất Lào, rất cần những người có trách nhiệm như chị Hồ Thị Hải Âu.
Nguyễn Khiêm

Bình luận

ZALO