Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 09:59 GMT+7

Lời tự sự của khèn Mông

Biên phòng - "... Đôi ta hát với nhau đêm nay/ Hát với nhau một ngày/ Mai có phải chia tay/ Ta mới ưng cái bụng...". Có dịp đến những vùng núi phía Bắc xa xôi, ai cũng bị mê hoặc bởi những âm thanh như tiếng gió rì rào, lướt trên những chồi non bung nở trong nắng sớm, như tan vào sương, hòa cùng gió nhẹ của chiếc khèn - loại nhạc cụ truyền thống gắn liền với bề dày văn hóa người Mông.

6ftl_20b
Khèn Mông vào hội.

Những khúc du ca trên đỉnh núi

Trong ngôi nhà sàn đơn sơ bên con dốc chênh vênh ở Bản Lầu (Mường Khương, Lào Cai), ông già Thào A Sẩn đón khách bằng bát rượu ngô thơm nồng hương núi. Nghe chúng tôi hỏi chuyện về sự tích chiếc khèn vốn được người Mông sống ở bất cứ đâu, đều coi là dụng cụ âm nhạc truyền thống "quan trọng số một" trong đời sống tinh thần của mình, ông Sẩn nhấp thêm ngụm rượu, lấy cái que cời cho bếp lửa hồng đượm, rồi thủng thẳng: "Cái khèn biết giúp người Mông khi chết tìm được đường về với tổ tiên, họ hàng đấy!...".

Lật giở từng dòng hồi ức gần 70 mùa nương gắn bó với tiếng khèn, từ khi tóc còn lưa thưa trên trán, ông Sẩn kể: Trong cộng đồng người Mông còn in đậm một truyền thuyết kể về sự tích ra đời của chiếc khèn. Xưa, một người con trai yêu rồi lấy một người còn gái, sinh ra sáu người con xinh đẹp, giỏi giang, tháo vát. Khi đôi vợ chồng đã già, một hôm, đang ở nhà chờ các con đi nương về thì bị một cơn lũ cuốn trôi đi mất.

Thương nhớ đấng sinh thành, sáu người con thảm thiết khóc lóc suốt chín ngày, chín đêm, đến khi giọng bị tắt, họ vào rừng để lấy ống trúc về thổi thay cho tiếng khóc. Cảm thương cho tấm chân tình của những người con hiếu thảo, thần núi đã ban tặng cho họ bí quyết để làm một chiếc khèn, được ghép lại bởi sáu ống nứa với độ dài ngắn khác nhau, tượng trưng cho độ tuổi của sáu anh em, để họ thì thầm vào đó những lời yêu thương, thắm thiết, làm vơi bớt nỗi khổ đau vì mất mẹ, mất cha. Chiếc khèn của người Mông ra đời từ đó...

Trò chuyện tỉ tê mãi, qua dăm lần, bảy lượt nâng lên, đặt xuống bát rượu ngô, rồi ông Sẩn cũng với tay lên vách lấy chiếc khèn xuống "trình diễn" cho khách miền xuôi thưởng thức. Qua mấy khúc dạo đầu, như bị "lên đồng" lúc nào không hay, ông Sẩn đứng dậy, bước ra khoảng nền đất của mái bếp, vừa thổi khèn, vừa thể hiện những động tác đá gót, vờn, rồi lượn một cách điêu luyện hòa cùng âm sắc lúc mượt mà, sâu lắng, dìu dặt, khi sôi động, vui tươi. Dường như, bao buồn vui cuộc đời đều được ông Sẩn ký thác trong những bản du ca trên đỉnh núi, réo rắt như suối, mơ màng mà hiu hắt buồn như trăng chiều trên nương...

Dừng tiếng khèn, thoáng một chút ngập ngừng của người già, ông Sẩn cười tươi: "Người Mông thường sống thành từng chòm, bản nhỏ trên núi cao nên tìm hiểu nhau khó lắm! Tôi nhờ thổi khèn hay mà gặp được vợ, khi đó là một cô gái Mông nhà ở quả núi bên kia, nghe tiếng khèn mà hiểu nhau và đến với nhau...".

Để vơi bớt nỗi lo thất truyền

"... Ơ này!/ Anh từ đâu ra/ Núi rừng bao la/ Sẽ kết đôi mình thành vợ thành chồng" - Lời tỏ tình say đắm trong bài dân ca kết lời giao duyên của người Mông được ông Thào A Sẩn dịch ra tiếng phổ thông, cùng những điệu khèn đậm chất núi rừng mà ông "biểu diễn", vẫn còn theo từng bước chân của tôi khi có mặt ở vùng núi Bản Mù (Trạm Tấu, Yên Bái), nơi có nhiều đồng bào Mông sinh sống.

Sau gần 5 năm trở lại, vẫn còn đó những ngôi nhà sàn ẩn mình trong sương sớm. Người Mông ở Bản Mù vẫn chơi chợ, đi nương và những chiếc khèn gắn bó với họ từ thủa xa xưa, giờ vẫn còn là người bạn đồng hành trong các dịp lễ, Tết. Những người già như ông Mùa A Lồng - vì quá yêu khèn Mông, vẫn tự chế tác ra những chiếc khèn, như để cố níu giữ những hoài niệm về một thời đã qua.

7luz_20a
 Chiếc khèn - linh hồn sống của dân tộc Mông.

Ở Trạm Tấu, ông Lồng là một trong số ít người vừa có thể tự tay làm ra chiếc khèn, vừa "điều khiển" nó ngân lên những khúc du ca của núi, của rừng. Ông tâm sự, chiếc khèn đã gắn bó với ông cũng như những người bạn cùng thế hệ từ thủa nhỏ. Bây giờ, khi cái chân đã mỏi, mái tóc đã cùng màu với những làn sương trên dãy núi bao quanh Bản Mù, ông muốn truyền ngọn lửa đam mê của mình cho lớp trẻ, nhưng cũng không còn mấy người thực sự hào hứng đón nhận.

Chưa xa lắm, người con trai Mông biết cầm khèn từ khi lẫm chẫm theo mẹ lên nương, theo cha xuống chợ phiên ăn thắng cố. Khi ấy, đàn ông người Mông, ai cũng biết làm khèn, vì nó là linh hồn sống của dân tộc mình, khi buồn, khi vui, đều cần đến nó để gửi gắm những tâm tình. Thế nhưng, bây giờ, cả vùng Trạm Tấu chỉ có hai người - ông Lồng và con trai Mùa A Vàng thành thục các công đoạn, có thể cho ra đời một chiếc khèn Mông đạt tiêu chuẩn truyền thống để cung cấp cho người Mông, không chỉ ở Trạm Tấu mà còn ở bên Mù Cang Chải, hay xa hơn là Sơn La, Hà Giang, Lai Châu.

Ông Lồng bày tỏ sự lo lắng rằng, cứ đà này, rồi đây không biết còn ai sẽ làm ra những chiếc khèn, nhất là khi những nghệ nhân như ông đều bước sang tuổi "xưa nay hiếm"? "Làm khèn không chỉ là một nghề truyền thống, xa hơn thế, đó còn là nét văn hóa của người Mông. Tôi chỉ mong thế hệ trẻ sẽ học, giữ nghề, vậy nên lúc nào cũng sẵn sàng truyền nghề cho bất cứ ai muốn theo học. Thế nhưng, cũng chẳng có mấy người trẻ đủ kiên nhẫn theo học, bám trụ với nghề..." - ông Lồng thở dài.

Dường như, với những bậc cao niên như ông Thào A Sẩn,  Mùa A Lồng, hay trẻ hơn là Mùa A Vàng, việc khôi phục những giá trị truyền thống của khèn Mông vẫn như một ước mơ, mà muốn hiện thực hóa sẽ cần rất nhiều nỗ lực. Họ đều có chung một ước nguyện - mà tôi tạm coi như "những lời tự sự của khèn Mông" - rằng, đến một lúc nào đó, ở mỗi phiên chợ vùng cao đều có một không gian cho những "nghệ sĩ khèn" người Mông cùng các nghệ nhân chế tác để bán cho người chơi chợ với giá mà "ai mua cũng được". Có như vậy, cái hồn của dân tộc Mông mới được bảo tồn và cái nghề làm khèn mới vơi bớt nỗi lo thất truyền.

P.V

Bình luận

ZALO