Biên phòng - Trời đã sinh ra người con gái và phú cho họ nét duyên dáng, mềm mại của "thắt đáy lưng ong", của má thắm, môi hồng. Hồn dân tộc thổi vào những câu lục bát cái tình người mượt mà, đằm thắm. Một kiệt tác của đất trời và một sáng tạo thông minh của con người, lặn vào trong thơ của Vũ Tuấn Anh (hiện là Đại tá, Phó Tổng Giám đốc Công ty 22-Tổng cục Hậu cần), mà tôi gọi đó là "lục bát và em".
Dễ hiểu thôi, bởi anh xuất thân từ miền quê Kinh Bắc, với những câu dân ca quan họ mặn mà, như: "Yêu nhau cởi áo cho nhau/ Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay". Cho nên, những câu lục bát đã chắp cánh cho "em", thổi hồn cho "em", để "em" cứ trôi bồng bềnh trong thơ, mênh mang giữa đôi bờ thực ảo, khiến người đọc bâng khuâng một cảm giác kiếm tìm.
Có thể tìm được "em", khi Vũ Tuấn Anh đã vận dụng tối đa những dấu ba chấm, cho cái thực ảo mong manh đó ở không ít các bài thơ. Dấu ba chấm chạm vào "em", nhắc về 'em". Nhưng chỉ nhắc thế thôi, để thêm vào cho đời chút xốn xang của "bồn chồn câu hát "người ơi…" (bài Anh lại về Lim), hay "Người dưng chẳng thể hờn ghen/ Chỉ mong bày tỏ để em hiểu là…" (bài Từ khi). Hoặc: "Lá trầu này chẳng còn xanh/ Cau khô… vôi trắng… có thành đỏ tươi?".
Cứ dùng dằng như thế, cứ ngập ngừng như thế, như sợ chạm vào thật sự thì "em" biến mất, nên chỉ vậy thôi. "Em" có thật hay chỉ là "nàng thơ" của biết bao thi sĩ, hoàn toàn do người đọc phải giải mã theo cách riêng của họ. Cái "khôn" của Vũ Tuấn Anh là thế.
Có thể tìm được không, khi "em" là nguồn cảm hứng để "ngày ấy" và "bây giờ" luôn đan xen quấn quýt như trầu xanh - cau trắng - chay hồng tạo ra hai mảng đối lập nhưng rất ít tương phản, chủ yếu là tương đồng và luôn biến đổi trong từng bài thơ. Thơ Vũ Tuấn Anh có sự đối lập của một chút bâng khuâng luyến tiếc "em ngày xưa" ấy với "em bây giờ".
Ấy là hình ảnh liền chị quan họ dịu dàng với yếm thắm, với nón quai thao, với nụ cười lúng liếng, từng đốt lòng ai khi "Bất ngờ vấp phải quai thao/ Vướng vào dải yếm chênh chao đất trời", và "Bóng ai ngồi tựa mạn thuyền/ Để ai tơ tưởng hão huyền mộng mơ". Bao nhiêu năm rồi, hình ảnh liền chị quan họ ấy vẫn không phai nhạt trong tâm trí người quan họ nặng tình.
Dường như "em" làm cho Vũ Tuấn Anh "say". Say đến độ cứ bất cứ cái gì của tuổi thơ, của quá khứ, khi lỡ "chạm vào" là "cuốn phim ký ức" lại ào ạt xô về với những "giá như" ngậm ngùi một niềm tiếc nuối mong manh. Say người quan họ, vì quan họ là "em". Say vì trầu, vì cau, vì má thắm, môi hồng. Say đủ để thơ chắp cánh cho "em" thăng hoa: "Em cười anh đã nôn nao/ Cái vành nón trắng nghiêng chao tứ tình" (Bài Cứ ngỡ). Để rồi "Mượn lời quan họ thầm thì trao nhau" (Bài Về hội Lim nhé em).
Nhưng "say mà không đắm" lại là một nét độc đáo nữa trong việc diễn đạt ý thơ của Vũ Tuấn Anh. Anh tự dặn lòng: "Một mình tôi gói đam mê/ Chia cho em nửa câu thề... lặng im".
Là vậy đó! Nhận về mình một nỗi chênh chao, nhận về mình sự lặng im đáng trân trọng, bởi "Em giờ là của người ta". Nhưng, không vì thế mà "em" buồn đâu nhé. Bởi vì "em", có thể là một mối duyên quan họ không đành quên của chàng trai Kinh Bắc. Cũng có thể không cụ thể là một ai đó trong dòng hoài niệm về quê hương của "thi sỹ chân quê".
Có thể nói, chữ "em" trong thơ Vũ Tuấn Anh thật đa nghĩa, đa tình và cả đa đoan! Vẫn biết "em" trong hầu hết những vần lục bát của anh không mặc định một người cụ thể, nhưng cũng không phải hoàn toàn không là ai đó lãng đãng trong cảm xúc hồn thơ anh! Vũ Tuấn Anh đã "em hóa" những hình ảnh chợt đến rồi vương vấn mãi không thôi. "Em" là quan họ, là ví dặm, là chiếc nón quai thao, là mạn thuyền để trai tài gái sắc trao duyên...
Có lục bát thì phải có "em". Em và lục bát trở thành "cặp bài trùng" trong thơ Vũ Tuấn Anh. Lục bát được tạo bởi điểm nhấn riêng biệt của những dấu ba chấm lửng lơ như dải yếm đào thắt hờ trên bờ vai nàng thiếu nữ. Lục bát nhịp nhàng uyển chuyển bởi những mảng ký ức đối lập tương đồng giữa đôi bờ thời gian "ngày ấy - bây giờ", khi trái tim của người thơ bồng bềnh cảm xúc. Lục bát làm sống dậy không gian làng quê và nỗi chờ mong quan họ "đến hẹn lại lên". Vậy mới thấy, người sống trong phố thị mà lòng còn vương quê.
Cái đọng lại phía sau "lục bát và em", là một chữ "tình": Tình thơ, tình đời.






