Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 04:34 GMT+7

Miền đất ghép đôi bờ Sê Pôn

Biên phòng - Con sông biên giới Sê Pôn, đoạn chảy qua địa phận hai huyện Đakrông và Hướng Hoá của tỉnh Quảng Trị dài 206km, bọc giữa 23 cặp bản Việt - Lào kết nghĩa đã trở thành biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai quốc gia. Từ thời điểm ra đời các cặp bản kết nghĩa, dải biên giới hai bờ sông được nhân dân hai quốc gia gọi với cái tên đầy ý nghĩa: Miền đất ghép đôi.

 1671b.gif
Người dân hai bờ Sê Pôn bên dòng sông. Ảnh: T.T.H
Chung dòng Sê Pôn

Tháng 7-2005, cặp bản đầu tiên trong chương trình kết nghĩa bản - bản Việt - Lào đầu tiên đã đặt bút ký kết. Sau đó, lần lượt 9 đồn biên phòng tuyến biên giới đất liền của tỉnh Quảng Trị: Cù Bai, Sen Bụt, CKQT Lao Bảo, Thuận, Tam Thanh, Pa Tầng, Pa Nang, La Lay, A Vao lần lượt xúc tiến chương trình ghép đôi 23 cặp bản hữu nghị bên sông Sê Pôn. Thời gian để nhân dân hai quốc gia trở thành người chung một làng chưa nhiều, nhưng miền đất này đã thực sự chuyển biến, giao hoà, tránh xa khỏi cái tiếng Vùng Lìa hoang vu, heo hút, nghèo khó ngày nào.

Những năm 90, Vùng Lìa gồm 7 xã biên giới của tỉnh Quảng Trị là đất phỉ. Cánh rừng hai bên sông Sê Pôn được gọi với cái tên rùng rợn, ám chỉ sự cô lập, đi dễ, khó về là Lìa. Con đường 40km dọc sông biên giới Sê Pôn cũng được gọi với cái tên là đường Lìa, không ai dám qua lại, ngoài những bản người Pa Kô, Vân Kiều cô độc sinh sống rải rác hai bên sông. Đi vào chốn này, không bỏ mạng vì phỉ thì cũng chết dần, chết mòn vì sốt rét. Đêm đêm, tiếng chày giã gạo thình thịch trong bản mất hút trong những mảng rừng rậm rạp càng làm cho vùng biên thêm tịch mịch cô liêu. Có lẽ vì thế khiến người Vân Kiều rất sợ những khu rừng ma (rừng mộ). Họ chôn người chết càng xa càng tốt, tránh tối đa việc thăm viếng mộ và xâm nhập những khu rừng này.

Năm 1977, Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia Việt - Lào được ký kết, chia đôi bờ Sê Pôn sang hai quốc gia. Khi ấy, người dân Vân Kiều hai bên sông mới thực sự hiểu khái niệm đường biên ngay trên con sông mà hàng ngày họ vẫn lội qua lại thăm thân, làm ăn. Con sông Sê Pôn mà cả hai bờ uống chung dòng nước đã là lãnh thổ của hai quốc gia. Và nếu không có sáng kiến kết nghĩa bản - bản Việt - Lào, có lẽ cái khoảng cách phân chia ấy cứ rộng mãi ra và người dân hai bờ vốn chung một dân tộc, thậm chí chung cả huyết thống bà con lại thêm xa cách. Thêm vào nữa, những khu rừng ma xen kẽ vẫn nằm rải rác hai bên sông. Người Vân Kiều không có tục cải táng. Người chết nằm đâu cứ nằm mãi ở đó, cho nên, những khu rừng ma mặc nhiên là tài sản tinh thần chung dễ nảy sinh nhiều mâu thuẫn rất khó giải quyết. Giữa lúc đó, sáng kiến kết nghĩa bản - bản của BĐBP như chìa khoá giải quyết vấn đề. Đã có cam kết rồi, mâu thuẫn dù nhỏ, hay lớn, chỉ cần các già làng ngồi lại với nhau, uống chưa xong chén rượu, mỗi bên đều đã dịu giọng. Chủ nhường khách, khách lại nhường chủ, cuối cùng, chẳng ai muốn gây hấn làm gì nữa. Hai bên thống nhất tôn trọng các khu rừng thiêng, không thả trâu bò, tự ý lấn đất trồng hoa màu hay đi ngang về tắt qua rừng.

Những năm Vùng Lìa được UBND tỉnh Quảng Trị xúc tiến đầu tư phát triển kinh tế, các khu rừng ma một lần nữa lại có nguy cơ bị xâm phạm bởi các dự án thu hồi đất đầu tư hạ tầng. Và cũng chỉ qua các kỳ giao ban thường quý giữa các già làng, trưởng bản hai bên, các văn bản thống nhất được gửi đi buộc chính quyền địa phương phải nhượng bộ, đình lại dự án trưng dụng các khu rừng ma.

Trưởng thôn ĐenViLay, huyện Mường Noòng, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt, Lào, ông Uy Xa Muội nói: Từ khi trở thành cặp bản ghép đôi với bản A Ho, xã Thanh, bên ấy với bên này như người một nhà. Người Việt sang đây giúp chúng tôi trồng sắn, chuối, bời lời để có thu nhập khá hơn. Đen-Vi-Lay hiện có 54 hộ, 341 nhân khẩu... Người dân Đen Vi Lay vẫn thường băng qua sông Sê Pôn đến xã Thanh khám chữa bệnh, mua bán, trao đổi hàng hoá. Cửa khẩu Phụ Thanh, thuộc Đồn BP Tam Thanh quản lý là cửa ngõ giao thương đặc biệt chỉ phục vụ cho vùng đất ghép đôi này. Mùa khô, có thể lội qua sông. Mùa lũ, sông Sê Pôn như con trăn dữ chờm lên hai bên bờ, cả hai bản A Ho và Đen-Vi Lay đều thiệt hại nặng nề. BĐBP sẵn lòng nhường cơm sẻ áo, giúp người dân hai bờ không phân biệt quốc gia ổn định cuộc sống, dựng lại nhà cửa, làng bản.

“Lưỡng quốc già làng”

Sức mạnh đại đoàn kết - hiệu quả cao nhất của chương trình kết nghĩa bản - bản Việt - Lào không còn là những khẩu hiệu khô cứng. Ở đây, một lời nói của già làng, bằng uy tín của mình, nhiều khi có thể cởi nút thắt những vấn đề đặt ra trên biên giới hai quốc gia.

 246t10-(1).gif
Già làng A Ho Hồ Văn Tố.Ảnh: T.T.H

Già làng Hồ Văn Tố, Bí thư chi bộ bản A Ho, nguyên trước đây từng là Bí thư xã Thanh, huyện Hướng Hoá, Quảng Trị. Ông thường được gọi với cái tên thân mật là Pả Nhờ (nghĩa là người bố có con trai cả tên là Nhờ, theo cách gọi của người Vân Kiều). Khi còn là một dân quân du kích xã, ông Hồ Văn Tố đã từng cầm súng AR15 rượt đuổi và bắt sống toán biệt kích 4 tên ngay ở bản 9, xã Thanh. Uy tín của ông vững chãi như cây rừng lâu năm đứng bên dòng sông Sê Pôn.

Tháng 8-2009, hai bản A Ho và Đen Vi Lay kết nghĩa. Năm 2010, người dân hai bờ sông muốn làm một cây cầu tre bắc qua sông để thuận tiện cho việc qua lại và trao đổi hàng hoá. Pả Nhờ lại phải đứng ra dàn xếp, giảng giải quy chế biên giới với người dân cả hai quốc gia. Cuối cùng, hai bên đều thông hiểu, vui vẻ rút lại ý định làm cầu mặc dù đã chuẩn bị. Già làng đề nghị làm một bữa cơm tình cảm chung giữa hai bản, mổ bò ăn mừng. Và dịp đó, hai làng lại có cơ hội mang cồng chiêng truyền thống của người Vân Kiều ra biểu diễn. Người già hai bản có dịp thể hiện các tiết mục văn nghệ, hát các bài ca cổ bên ché rượu cần. Tiếng hát lại ngân vang bên bờ sông Sê Pôn.

Thiếu úy Xôm Dân, cán bộ địa bàn Đồn BP Tam Thanh, người từng lặn lội qua bờ Sê Pôn để dạy tiếng Việt cho phụ nữ Lào. Anh nói: Các già làng là linh hồn của chương trình kết nghĩa bản - bản. Nếu không có các “bố bản”, chúng tôi thiếu mất một cây cầu quan trọng để kéo người dân hai bờ lại thân thiện với nhau. Mỗi lần các anh có bất kể việc gì, từ tuyên truyền vận động quần chúng đến vu việc cần giải quyết ở địa bàn, thì ai cũng muốn tham khảo trước ý kiến của già làng, mặc dù đều thông hiểu tiếng Lào, văn hóa tập tục địa phương và ngoại biên. Có các già làng chỉ dẫn, mọi việc đều trôi chảy và thông suốt.

Như con sông Sê Pôn vẫn chảy, tình cảm gắn bó của quân dân hai bờ ngày càng thắt chặt. 23 cặp bản kết nghĩa tuyến biên giới Việt - Lào tại Quảng Trị mới chỉ là khởi đầu, nhưng là một khởi đầu trôi chảy. Từ đây, cả dải biên cương dài rộng giữa hai quốc gia sẽ triển khai chương trình kết nghĩa bản - bản. Sẽ có nhiều miền đất ghép đôi liền sông, liền núi ra đời, cùng phát triển trên những thành quả hôm nay

Trương Thúy Hằng

Bình luận

ZALO