Biên phòng - Đêm...
Câu chuyện về những người chiến sĩ công an trong đêm giao lưu cứ lởn vởn trong đầu tôi, nó như thôi thúc tôi phải viết một cái gì đấy về họ, về "những người bị giam ở ngoài" như anh Nguyễn Viết Hoàn, Giám thị trại giam nói đùa mà khó quá. Những cán bộ, chiến sĩ, những người quản giáo mà tôi đã gặp khi đang làm nhiệm vụ trên rừng cao su, ruộng mía, hay trong các phân xưởng sản xuất như đan lát, khâu bóng... Rồi hình ảnh những phạm nhân đứng nghiêm "báo cáo" khi chúng tôi vào thăm trại ban chiều cứ lần lượt hiện ra, lúc tỏ, lúc mờ, như một cuốn phim quay chậm trong đầu.
Theo báo cáo của Ban giám thị trại thì trong 69 năm xây dựng và trưởng thành, Trại giam số 6 này bắt đầu đi từ "không đến có", bắt đầu từ khu đất "rừng xanh núi đỏ" đến một cơ ngơi khang trang như hôm nay. Một cái cơ ngơi mà chính họ, "những người bị giam từ bên ngoài" này cũng khó mà tưởng tượng ra, với xuất phát điểm là hai bàn tay trắng. Cái ngày ở thế kỷ trước, bị Mỹ ném bom nhiều lần, có nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh, cũng có nhiều phạm nhân thiệt mạng. Thế mà... sau 40 năm thống nhất đất nước, sau gần 30 năm đổi mới... từ một khu đất hoang sơ, nhà tranh vách đất, dưới bàn tay của những cán bộ, phạm nhân Trại giam số 6, giờ đã là một cơ ngơi khang trang, có lẽ là vô giá ở nơi đây như hôm nay.
Tôi nhớ mãi câu đầu tiên trong đêm giao lưu của Trung tá Thái Bá Hải, cán bộ quản giáo:"Tiếc thật, sang năm, tôi về hưu, cũng là lúc trại giam tròn 70 tuổi". Rồi anh xuýt xoa, 36 năm công tác, 36 năm mặc quân phục công an thì có đến gần 20 năm trực tiếp làm nghề quản giáo. Nhớ lắm, cái nghề chẳng giống cái nghề nào ở trên đời. Có người bảo đây là nghề "dạy học lại", cũng có người bảo đây là nghề "bị giam ở ngoài", song cũng có người bảo là nghề "rèn giũa tâm hồn, hay phẫu thuật tâm hồn, phẫu thuật những trái tim rách nát", khâu lại những trái tim đã bị xé toác ra vì lầm lỗi...
Cái nghề mà có lần quá bức xúc vì thiếu tất cả những cái cần thiết nhất của con người, trong cái khoảnh khắc đất nước bắt đầu chập chững bước ra khỏi nền kinh tế bao cấp, bố anh đã bảo anh khi bị vợ anh cằn nhằn: "Làm công an là nghề sang trọng nhất trong mọi cái nghề như anh vẫn nói, thế mà anh không có một chút thời gian nào cho gia đình, kể cả những ngày nghỉ. Rồi anh cũng không có đủ tiền để mua sữa cho con, mua thuốc cho mẹ lúc ốm đau...". Lúc ấy Trung tá Hải chỉ còn biết cười gượng gạo, để rồi anh có hôm nay ngồi trước chúng tôi vừa kể, vừa tự hào về đơn vị, về đồng chí, đồng đội của mình. Rồi anh tâm sự:
Ngày vào đây, vào cái đất Yên Sơn, huyện Thanh Chương này, chỉ có rừng, núi, có suối chảy và sình lầy, với mấy mái nhà tranh xiêu vẹo. Nhiều lúc anh cùng đồng đội phải ăn sắn, ăn khoai trừ bữa, có những lần vô tình được chia phải củ khoai "hà", sắn "chạy nhựa" là nhịn luôn cả bữa, nhưng không thể không hoàn thành nhiệm vụ của mình. Rồi ngay như chuyện quân trang, quân phục của ngành, khi đất nước ta còn nghèo nên cũng không tránh khỏi thiếu thốn.
Song Trung tá Hải và đồng đội vẫn "thắng không kiêu, khó khăn không nản", gắn bó với ngành, với bao nhiêu thăng trầm của một trại giam ở nơi rừng núi. Để có hàng vạn trại viên hướng thiện, quay lại hòa nhập cộng đồng, các anh, các chị đã dành cả phần lương ít ỏi của mình để mua thuốc cho phạm nhân khi trái gió trở trời ốm đau. Đã có những người trước kia từng là phạm nhân, nay quay lại nơi đây khi họ đã hoàn lương, thành đạt.
Cũng chẳng thiếu những hành động, những cử chỉ hay lời nói của họ làm các chị, các anh công an trong trại giam phải rơm rớm nước mắt khi họ cảm ơn. Họ bảo những quản giáo, những giám thị ở đây đã cho họ một tâm hồn, một nghị lực hoàn toàn mới để có cuộc sống hôm nay. Những mảnh xốp, mảnh vật liệu cũ tưởng như bỏ đi đã được một phạm nhân hết hạn tù xin ở lại, làm thành núi, thành sông, thành đồng, thành ruộng và con đường ngược Bắc, xuôi Nam trên sa bàn khu trại. Cũng có nhiều phạm nhân khi mãn hạn xin ở lại để có thêm thời gian phục vụ trại, rồi có người vì tuổi cao, sức yếu không có nơi nương tựa muốn ở lại đây để sống nốt quãng đời còn lại...
Trung tá Thái Bá Hải cảm động tâm sự, rồi bảo: Có những lần vợ thủ thỉ vào tai mình, cô ta nói mà như trút cơn tức cho hả giận, xong rồi thương chồng con lại ngồi khóc một mình, dỗ mãi mới đi ngủ. Cô ấy bảo thế này: "Anh coi trại giam, coi phạm nhân hơn gia đình, hơn vợ con rồi đó". Anh cười, mà cũng chỉ biết "cười xòa" thôi cho xong chuyện. Quả thật, việc của trại giam, việc của phạm nhân luôn được các anh, các chị đặt lên hàng đầu...
Khi vào thăm Phân trại số 3, người đầu tiên tôi gặp là phạm nhân Đặng Văn Thế, quê ở xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An, phạm tội buôn bán, vận chuyển chất ma túy. Anh ta nhìn tôi nhếch mép cười mà cái miệng như méo xệch. Hai tay anh ta run bắn lên, trán lấm tấm mồ hôi. Anh đã thi hành án, trong Phân trại số 3 này 17 năm 8 tháng. Nhà văn Nguyễn Hữu Thụ vỗ vai, nói nhỏ vào tai tôi: "Này, một nhân vật chính trong truyện ngắn hưởng ứng cuộc thi với chủ đề "Sự hối hận và niềm tin hướng thiện" mà chính Đặng Văn Thế là tác giả, anh ta được giải nhất đấy".
Đúng là... ra ngõ gặp may, tôi đứng nói chuyện với Đặng Văn Thế, dẫu sao thì anh ta vẫn rụt rè với những gì về thân phận của mình. Một chút xao lòng, một chút rung cảm, tôi lắng nghe, Thế nói lý nhí như tự nói với mình: "Báo cáo cán bộ, em là người gặp may, nhờ có các cán bộ quản giáo làm việc bằng lương tâm và trách nhiệm mà em đã làm lại được cuộc đời. Từ án tử hình, xuống án chung thân, rồi nay mai em sẽ có cơ may, còn có thời gian mà suy ngẫm về tình người. Nghĩ lại mà kinh khủng, nếu như không có các cán bộ, không có trại giam "số 06" này thì chẳng biết đời em đi tới đâu với những tội danh của mình...".
Tôi đứng lặng, như chôn chân, mắt dõi về đằng cuối sân kia, khu buồng biệt giam cửa mở toang hoác như mấy cái hố đen ngòm. Tôi chợt hiểu, bằng những tấm lòng, bằng sự tận tình chăm lo đến bữa ăn, giấc ngủ, viên thuốc lúc ốm đau, những cử chỉ đúng mực, đầy tình người, những người quản giáo đã làm nên kỳ tích, chắp cánh cho những cuộc đời lầm lỡ.







