Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 09:29 GMT+7

Một ngày nơi "đất lửa" anh hùng

Biên phòng - Xuống xe, trừ các nghệ sĩ nhiếp ảnh là chạy đi, chạy lại tìm vị trí thích hợp để làm sao thu được vào trong ống kính những hình ảnh đẹp, có ý nghĩa, còn chúng tôi (những văn nghệ sĩ của Hưng Yên) theo cổng chính chầm chậm bước tới Đài tưởng niệm đặt ở trung tâm Thành Cổ Quảng Trị. Trời không gió, hai hàng cây đứng lặng như một sự trang nghiêm; vạt cỏ xanh non cũng làm dịu đi đôi chút cái nóng của miền đất vốn đã chịu nhiều khắc nghiệt.

46-1.jpg
Đài tưởng niệm Thành cổ Quảng Trị. Ảnh: Internet
Trong khung cảnh êm ả này, ít ai dám nghĩ hơn 40 năm trước, nơi đây từng hứng chịu một lượng đạn bom khổng lồ, để rồi mỗi khi đến đây, niềm tự hào, nỗi xót xa trong mỗi con người cứ đan xen lẫn lộn.

Vừa là bàn đạp nhằm phục vụ cho ý đồ "Bắc tiến" của địch, vừa là lá chắn bảo vệ biên giới kéo dài đến vĩ tuyến 17, Quảng Trị có một vị thế đặc biệt quan trọng. Chính vì vậy, Mỹ, ngụy tập trung ở đây một lực lượng hùng hậu (cả về con người và vũ khí). Hùng hậu đến mức Tổng thống Mỹ Ních-xơn lúc ấy tin tưởng tuyên bố, nếu có bị một đợt tiến công mạnh mẽ của Cộng sản thì tuyến phòng thủ này của Việt Nam Cộng hòa chỉ có thể chùng chứ không thể đứt!

Vậy mà, cuối tháng 3-1972, nơi đây bị quân ta đánh đòn bất ngờ, địch trở tay không kịp. Pháo binh ta dội lửa xuống các căn cứ địch, từ điểm cao 544, Đồi Tròn, Cửa Việt, từ Cồn Tiên, Dốc Miếu, từ Đông Hà, Ái Tử đến thị xã Quảng Trị, La Vang... tất cả đồng loạt bốc cháy rừng rực. Bộ binh, xe tăng ta tiến công cả ban ngày chiếm các cứ điểm, giành quyền làm chủ.

Cuối tháng 4-1972, ta lại tiến công đợt hai, đến tháng 5 thì giải phóng toàn bộ thị xã Quảng Trị. Chính quyền Sài Gòn lúc ấy như ngồi trong chảo lửa. Được Mỹ viện trợ với mức tối đa, cuối tháng 6, chúng dốc lực lượng mở cuộc hành quân lấy tên "Lam Sơn 72" hòng tái chiếm Quảng Trị (nhất là Thành Cổ) nhằm xốc lại tinh thần cho binh sĩ, tạo lợi thế về chính trị, quân sự, ngoại giao, gây sức ép với ta trên bàn Hội nghị Pa-ri.

Nằm ở trung tâm thị xã (nay là thành phố) Quảng Trị, cách Quốc lộ 1A chừng 2.000m về phía Bắc, cách dòng sông Thạch Hãn chừng 500m về phía Đông, nhằm làm nơi trấn giữ phía Bắc kinh đô Phú Xuân (Huế), Thành Cổ được triều đình nhà Nguyễn cho xây dựng khá kiên cố. Thành có 4 cổng chính: Tiền, hậu, tả, hữu đều được xây theo hình vòm cuốn chính giữa các bức tường thành, phía trên có vọng gác, bên ngoài tường thành có hệ thống hào rãnh bao bọc.

Thành Cổ không chỉ là thành lũy quân sự, mà còn là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của cả tỉnh Quảng Trị. Đáng ra, nó phải được xem như một di tích để hậu thế đến đó chiêm ngưỡng, hiểu thêm về lịch sử và những tài hoa trong nghệ thuật kiến trúc của cha ông. Vậy mà, chỉ 81 ngày đêm (từ ngày 28-6 đến hết ngày 16-8-1972) nó đã bị đổ nát mà bất kỳ ai đến đây đều phải chua xót ngậm ngùi. Trong khuôn viên chừng 16ha ít ai dám tin một ngày Thành Cổ phải hứng chịu hàng ngàn tấn bom, hàng vạn quả đại bác. Như thế làm sao không mất mát! Nhưng cái mất đã vô hạn, cái được cũng tột cùng. Quảng Trị nói chung, Thành Cổ nói riêng đã thành tiêu điểm minh chứng cho ý chí quật cường của một dân tộc, minh chứng một điều tưởng như nghịch lý là lòng yêu nước, khao khát độc lập đã chiến thắng kẻ thù với những vũ khí tối tân. Theo bước chân cô hướng dẫn viên, chúng tôi đến thắp hương trên Đài tưởng niệm. Cắm nén hương vào lư hương, lắng nghe giọng miền Trung ấm áp, niềm xúc động trong mỗi chúng tôi cứ dâng trào.

Di vật người lính: Từ chiếc ba lô bạc màu, bao đựng gạo, đến đôi dép cao su... được đặt giữa quả chuông và chiếc trống; từ hình ảnh chiến sĩ Dương Văn Bạo, quê Hưng Yên, lúc ấy mới 21 tuổi, hai lần bị thương vẫn không rời trận địa đến di thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh, quê Kiến Xương, Thái Bình như tiên đoán được sự hy sinh đã căn dặn người vợ trẻ chỉ có sáu ngày được chung sống bên nhau. Tất cả cứ khắc vào tôi như một sự nhắc nhở trước cuộc sống với bao điều cám dỗ.

Còn bao nhiêu, bao nhiêu nữa..., giấy bút nào ghi xuể!

Bỗng giọng cô hướng dẫn viên trùng xuống, nghẹn ngào khi thông báo một mất mát quá lớn: Trong suốt 81 ngày đêm, cứ mỗi đêm một đại đội của ta vượt sông Thạch Hãn vào tăng cường cho Thành Cổ thì sáng ra chỉ còn lại vài người.

Chẳng dám làm phép tính nhân, nhưng trong mỗi chúng tôi, cái hiện thực ấy cứ ùa vào ứ nghẹn. Nhà thơ trẻ Khúc Hồng Thiện, hiện công tác tại báo Nhân dân, nức nở rút mùi xoa lau lau phía trong tròng kính. Anh khóc! Tôi định nói một câu gì đó để động viên, nhưng lại nghĩ lúc này yên lặng là cần thiết. Khi mà Thành Cổ đang trong giai đoạn khốc liệt, lớp người như Khúc Hồng Thiện vẫn chưa được hít thở khí trời, nhưng bây giờ đến đây, tận mắt chứng kiến sự hy sinh của thế hệ cha ông, nước mắt rơi xuống đâu phải là sự yếu hèn.

Rời Thành Cổ, đoàn chúng tôi lên đường đến viếng nghĩa trang Trường Sơn rồi về nghỉ đêm ở một khách sạn bên bờ sông Nhật Lệ. Ngồi trên bờ sông nhìn về phía bến đò Mẹ Suốt (giờ đã có cầu), tôi cứ miên man suy nghĩ. Hình ảnh mẹ, nghĩa trang Trường Sơn, Thành Cổ Quảng Trị đã khắc sâu trong tâm khảm để rồi hôm nay hòa vào muôn ngàn màu sắc, âm thanh.

Một Thành Cổ, một nghĩa trang không mộ hay đúng hơn chỉ có một ngôi mộ tượng trưng được kiến trúc theo kiểu lưỡng nghi; âm dương kết hợp. Giữa hồ nước có cột đèn cao 8,1m nhằm chuyển tải linh hồn các liệt sĩ về cõi vĩnh hằng, bên cạnh là ba áng mây tượng trưng cho trời, đất và con người, giữa tầng nối phần lưỡng nghi có một lư hương nghi ngút khói, bên ngoài hồ nước là 81 tờ lịch tượng trưng 81 ngày đêm khói lửa được xếp theo kiểu chạy lùi.
Chẳng thể có con số chính xác dưới lớp cỏ non Thành Cổ, bao chiến sĩ đã ngã xuống, cũng chẳng thể có con số chính xác trong lòng sông Thạch Hãn bao người đã nằm lại. Cựu chiến binh Lê Bá Dương thăm lại chiến trường xưa, đứng trên bờ sông Thạch Hãn đã nghẹn ngào thốt lên:

... "Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi đôi mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm".

Hơn 40 năm trôi qua, dòng sông Thạch Hãn còn đó, Thành Cổ còn đó, sự tích 81 ngày đêm còn đó. Đồng đội của các liệt sĩ ngày ấy, giờ nhiều người đã giữ những trọng trách lớn lao, nhiều người đã về đời thường, sống giản dị, khiêm tốn, nhưng mỗi khi đến Quảng Trị lại thấy như đang soi vào một tấm gương để chỉnh sửa lại mình.
Nguyễn Văn Thích

Bình luận

ZALO