Biên phòng - Trên hải đồ của người Pháp trước đây, đảo Hòn Nghệ được gọi là Pu-lô-tơ-kê-rơ, nằm cách mũi Hòn Chông khoảng 15km và cách thị trấn Ba Hòn (huyện Kiên Lương, Kiên Giang) khoảng 20km về phía Tây Nam. Theo tài liệu về thổ nhưỡng học của người Pháp, hòn đảo này vốn được giới "phượt" mệnh danh là "thiên đường hình bầu dục" (vì có hình bầu dục trên bản đồ) được tạo thành bởi đá sa thạch, có đỉnh cao hơn 300m. Các bậc cao niên trên đảo kể lại rằng, thập niên 30 của thế kỷ trước, Hòn Nghệ vô cùng hoang vắng, chỉ có một vài hộ dân vì một lý do đặc biệt nào đó vượt biển ra sống bằng nghề đánh bắt cá. Thế mà bây giờ, đảo đã có quy mô hành chính cấp xã (thuộc huyện Kiên Lương) với hơn 2.000 dân, sống ở hai ấp Bãi Nam và Bãi Chướng.
![]() |
Ngày càng có nhiều khách du lịch ra "phượt" ở Hòn Nghệ. |
Đảo Hòn Nghệ có hai "người em" kề cận, đó là hòn Khô, một bãi đá nhỏ, chỉ nhô lên khi thủy triều xuống; hòn Chum với ít cây xanh và tròn như một chiếc chum. Gần 100 năm kể từ khi những gành đá ở Hòn Nghệ đón những cư dân đầu tiên đặt chân đến sinh sống, trong ký ức của lớp ngư dân cao tuổi, vùng biển mưa thuận gió hòa, đầy ắp cá tôm đã không phụ lòng những con người vượt qua sóng gió, coi đảo xa như quê hương của mình.
Trong ký ức của ông Lê Văn Ngà, người thuộc thế hệ thứ ba của "lịch sử" xứ đảo này vẫn còn nhớ vì bị điền chủ ép lấy hết ruộng đất, ông nội của ông đưa cả gia đình từ vùng U Minh bên Cần Thơ ra đảo khai hoang lập ấp. Từ đất liền, trên một chiếc ghe xập xệ, họ vượt biển ra đây cất chòi, cất trại làm rẫy. Lúc đó, cá tôm ngoài này nhiều không kể xiết. Nếu thiếu cái ăn, chỉ cần đập vài con ốc làm mồi đi câu một lúc là có đồ tươi ăn cả ngày không hết. Thế nhưng, dù thuộc "dòng dõi" những tiền nhân ra làm chủ Hòn Nghệ từ gần 100 trước, ông Ngà cũng không biết tường tận xuất xứ cái tên "Hòn Nghệ" mà chỉ "mang máng" rằng, trước đây, trên đảo có rất nhiều sặt, một loại cây gần giống cây lau nhưng thân to, lại đặc ruột, mọc ở triền núi, dân trên đảo thường lấy sặt để đan tấm che sạp thuyền hoặc làm vách nhà.
Do sắc vàng đặc trưng như củ nghệ của cây sặt phủ kín cả đảo nên dân đi biển lấy tên "Nghệ" để định danh cho hòn đảo này. Đến bây giờ, dù cây sặt không còn nhiều như xưa, nhưng cứ đến mùa Đông, từ trên đỉnh núi cao, người ta vẫn có thể chiêm ngưỡng từng mảng màu vàng nghệ len theo những mỏm đá trắng, hòa với màu xanh của biển, của rừng, góc nhìn nào cũng như một bức tranh thủy mặc.
Những phong cảnh quyến rũ nhất ở Hòn Nghệ tập trung ở núi Lầu Chuông, nơi có bức tượng Phật Bà khổng lồ trong tư thế uy nghi, tự tại được xây dựng vào năm 1974. Với chiều cao 20m, tượng Phật Bà như một ngọn hải đăng định hướng cho những con tàu. Gần bức tượng có hòn đá Chum kỳ lạ. Chỉ cần dùng một hòn đá nhỏ gõ vào sẽ vang lên những âm thanh ngân nga như tiếng chuông chùa. Theo người dân Hòn Nghệ, có rất nhiều hòn đá khác ở hòn đảo này cũng có đặc tính như vậy.
Đường lên núi Lầu Chuông phải leo hàng trăm bậc đá ngoằn nghèo, hiểm trở, quanh co, lúc lên cao, khi xuống thấp. Trên đường đi, bên trái vách núi là một quần thể các vị La Hán bằng đá trắng được tạo dáng rất công phu, cầu kỳ và tinh xảo nhưng vẫn toát lên vẻ thanh thoát. Tọa lạc trên đỉnh Lầu Chuông là ngôi cổ tự mang tên Liên Tôn, có cây bồ đề cành lá sum suê sừng sững mọc giữa sân chùa. Theo lời Đại đức Thích Minh Thuận, trụ trì của ngôi chùa thì năm 1932, sư cô Diệu Thiên từ Cà Mau đến phát hoang, lập bàn thờ trong hang đá và theo thời gian, chùa có hình hài như ngày hôm nay. Điều đặc biệt của ngôi chùa Liên Tôn là ở chỗ, toàn bộ kiến trúc cấu thành nó nằm trong lòng hang sâu rộng, thâm u, u tịch thuận lợi cho việc tĩnh tâm tu hành, nhưng quanh năm vẫn tràn ngập ánh sáng nhờ những cửa hang được mở ra nhiều hướng từ trên cao.
Không chỉ có hang đá, nơi chùa Liên Tôn tọa lạc là vùng địa chất đá vôi, Hòn Nghệ được thiên nhiên xâm thực, tạo nên nhiều hang động kỳ vĩ. Riêng trên núi Lầu Chuông cũng có rất nhiều hang động mà đường đến hang nào cũng phải vượt qua nhiều vách đá tai mèo sắc nhọn như những bàn chông. Những con đường hiểm trở với những gành đá len theo vực sâu, núi cao, quả là có làm phiền lòng những người lớn tuổi, nhưng lại rất hấp dẫn với người trẻ tuổi muốn tìm cảm giác mạnh, muốn khám phá thiên nhiên.
Từ đỉnh Lầu Chuông, trèo xuống mạn sườn núi phía Bắc rồi vượt qua một vách đá thẳng đứng, là đến hang Gia Long. Ngay trước cửa hang là khối đá lớn mang hình một chú voi như người giữ cửa, bảo vệ vị vua trên đường kinh lý đã ghé lại nơi đây. Trên vách đá trong hang vẫn còn dấu triện của vua Gia Long thời đó với những nét hoa văn tạo nên hình một con rồng, cùng những hàng chữ nho còn rất rõ. Điều kỳ lạ, là dấu triện này ngày như càng lớn hơn do sự nở của đá. Hang Gia Long còn có một lối thông ra biển. Mỗi vách đá trên đường đi đều ghi dấu thời kỳ biển tiến, biển lùi từ hàng ngàn năm qua.
Cùng với những gì mà thiên nhiên ban tặng, làng nuôi cá lồng bè trên đảo Hòn Nghệ cũng góp thêm vào phong cảnh non nước hữu tình, tạo cho hòn đảo này một nét quyến rũ riêng. Mấy năm qua, khi những nguồn lợi thủy sản ngày càng hạn chế, nhiều ngư dân Hòn Nghệ chuyển sang nuôi cá lồng bè. Hiện nay, xã đảo Hòn Nghệ có hơn 300 bè nuôi cá trên biển, là khu vực tập trung nuôi cá lồng bè nhiều nhất tỉnh Kiên Giang. Ở vùng biển xa như Hòn Nghệ, vì đảm bảo độ sâu, độ mặn, chế độ thủy triều phù hợp, môi trường nước biển đạt những chỉ tiêu cần thiết nên cá bớp và cá mú được nuôi nhiều. Vì vậy, số bè lồng cứ tăng hằng năm và ở vùng chân sóng này, lúc nào cũng nhộn nhịp cảnh đóng bè. Theo cách làm của ngư dân Hòn Nghệ, các thanh gỗ chịu nước được ghép thành lồng, nhiều ô lồng ghép lại thành bè. Bè nuôi cá như một căn hộ thu nhỏ gồm nơi nghỉ ngơi, kho, bếp. Ở Hòn Nghệ, lồng nuôi cá mỗi năm phải "di cư" ít nhất hai lần: Mùa gió Nam (từ tháng 3 đến tháng 9 âm lịch) dời sang bãi Chướng; mùa gió Chướng (từ tháng 10 đến tháng 2 âm lịch), trở lại bãi Nam nhằm tránh sóng mạnh, ảnh hưởng đến năng suất cá.
Trải qua một thời gian khá dài nuôi cá lồng bè trên biển, ngư dân Hòn Nghệ đã rành rẽ về kỹ thuật chọn nơi đặt bè, chọn giống và mật độ thả cá, phân phối liều lượng thức ăn hợp lý. Hiện, làng nuôi cá lồng bè Hòn Nghệ cung cấp cho thị trường từ 60-80 tấn cá. Cá mú và cá bớp ở Hòn Nghệ là những thực phẩm hảo hạng, là đặc sản được tiêu thụ rất mạnh, hiện vẫn thiếu so với nhu cầu ở thị trường. Có thể nói, nghề nuôi cá lồng bè ở Hòn Nghệ vừa tạo nên một làng chài, góp thêm một nét đẹp vào cảnh quan của xứ đảo, vừa là một trong những hướng đi nhằm nâng cao đời sống của bà con ngư dân...
![]() |
Một góc xã đảo Hòn Nghệ, nhìn từ ngoài biển. |
Cũng như các đảo khác trên biển Tây Nam Tổ quốc, Hòn Nghệ có nhiều loài hải sản quý, hiếm, giá trị thương phẩm cao. Hiện, đội tàu của xã đảo Hòn Nghệ có hơn 200 chiếc. Vào mùa biển động, những ngư phủ tạm thời ngơi nghỉ, hòn đảo nhỏ lại rộn rã với việc sửa máy, tu bổ tàu. Trên vịnh biển, những ngư dân tranh thủ vá lưới. Cứ thế, cuộc sống trên đảo hay dưới xóm chài mỗi ngày thêm sôi động, bình yên. Sự bình yên ấy càng được bồi đắp bởi sự có mặt của những người lính Biên phòng, một điểm tựa vững vàng cho bà con xã đảo.









