Biên phòng - Xuất phát từ thành phố Phan Thiết, đi dọc bờ biển phía Nam một quãng chừng 25km là đến địa điểm đã nổi danh không chỉ trong Nam, ngoài Bắc, mà còn vượt biên giới, đến tận các quốc gia vốn là cường quốc du lịch sở hữu nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử, văn hóa như Thái Lan, Singapore, Pháp...: Ngọn Hải đăng Kê Gà (thuộc xã Tân Thành, huyện Hàm Thuận Nam, Bình Thuận). Trong chuyến độc hành đầu năm, tôi đã có mặt ở đây và nhận thấy, còn lâu mùa hè mới đến, đồng nghĩa với mùa du lịch biển chưa được khởi động, nhưng đã có khá nhiều xe cộ và khách du lịch dập dìu dọc theo bờ biển để thưởng thức cái đẹp, cái trinh bạch dịu dàng của "ốc đảo thiên đường" Hàm Thuận Nam. Và đương nhiên, cả nét cổ xưa có phần huyền bí của ngọn hải đăng có tuổi đời cao nhất khu vực Đông Nam Á.
![]() |
| Hải đăng Kê Gà, nhìn từ phía chân đảo. |
Mà lạ, theo vốn từ vựng Hán văn ít ỏi mà tôi có được, "kê" có nghĩa là gà, vậy thì hà cớ gì lại là "Kê Gà"? Như đọc được cái sự hoài nghi trong cái nhíu mày của tôi, Trương Hoàng Nam, hướng dẫn viên du lịch của một công ty lữ hành, có trụ sở ở gần mũi Điện giải thích khá tường tận: Sách Đại Nam nhất thống chí mô tả: "Ở phía Tây huyện Tuy Lý (nay thuộc huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận - Tác giả) 52 dặm về phía Nam, sát biển, có những hòn đá lớn. Ngoài có hòn đảo nhỏ gọi là Kê Dữ, tức đảo Gà...".
Còn theo truyền thuyết ở địa phương, cái tên đảo Gà xuất phát từ một ngọn núi bên trong đất liền tên là Cẩm Kê, nơi có nhiều bầy gà rừng, lông màu sặc sỡ, sinh sống bên các khe suối nước ngọt chảy ra biển. Cứ khoảng tháng ba, tháng tư âm lịch, mặt nước biển từ bờ ra đảo chỉ dài độ nửa cây số, sóng rất êm. Thậm chí, lúc nước ròng, người ta có thể đi bộ trên mặt cát. Khi người đi biển ghé nơi đây để lấy nước ngọt, thường bắt gặp những bầy gà rừng (dã kê) đến uống nước, đùa giỡn, vì vậy, người ta gọi đó là "Kê khê" (khe Kê).
Cho đến năm 1899, người Pháp đến thiết lập thị xã Phan Thiết, đi tìm một nơi để xây dựng ngọn hải đăng phát tín hiệu hướng dẫn tàu thuyền đi biển, đã chọn mũi Điện. Bản đồ người Pháp ghi là "Ke Ga", đọc trại âm thành ra Kê Gà... Cũng theo chàng hướng dẫn viên "thông kim bác cổ" Trương Hoàng Nam, đảo Kê Gà nay thuộc thôn Kê Gà, xã Tân Thành, huyện Hàm Thuận Nam. Đây là một vùng vịnh nên thơ, sóng lặng. Vào mùa gió Tây Nam, tàu thuyền đánh cá đậu ở hang Mú, còn vào mùa gió Đông Bắc, tàu thuyền đậu ở bãi Ngang.
Hòn đảo thiên nhiên trở thành bà mẹ che chở cho đàn con tránh giông bão của biển trời. Theo thời gian, những lưu dân về đây lập nghiệp và sức lao động vĩ đại của con người đã vỡ ruộng, khai hoang phục hóa những ngọn đồi, trồng phi lao chắn gió. Xã Tân Thành một thời là căn cứ địa của cách mạng, nay là vùng Hàm Thuận Nam nổi tiếng trù phú.
* *
*
Ngồi trên chiếc thuyền đánh cá gắn máy, chúng tôi được tài công là anh Sáu Lắm, người địa phương bẻ lái một vòng để ngắm phong cảnh đảo Kê Gà từ xa. Ra đến gần "mục tiêu", do bãi cạn, chiếc thuyền được neo cách bờ cát khoảng 20m nên chúng tôi phải đi bằng phương tiện trung chuyển - thuyền thúng. Cũng một phen hú vía khi mà chiếc thúng cứ nghiêng ngả theo sóng vỗ, nước mấp mé mặt thúng như muốn nuốt chửng cả người lẫn phương tiện thô sơ này. Cuối cùng, mọi việc cũng ổn thỏa, chúng tôi lên bờ, men theo những mỏm đá và phát hiện ra rằng, đây là một đảo đá, có nhiều khe ngách, hang động, nước trong xanh màu bích ngọc. Nam cho biết, theo lịch sử hàng hải, đảo Kê Gà được coi là một vị trí cực kỳ hiểm yếu của vùng biển từ Phan Rang đi Vũng Tàu. Ngay từ các thế kỷ trước đã có rất nhiều thuyền buôn qua lại nơi đây bị đắm do không xác định được tọa độ, vị trí. Để đáp ứng nhu cầu vận tải của quân đội Pháp cũng như thương thuyền dân sự qua đây, các chuyên gia hàng hải của thực dân Pháp lúc bấy giờ đã được lệnh nghiên cứu, xây dựng ngọn hải đăng Kê Gà. Trong thời gian xây dựng hải đăng, có nhiều người thiệt mạng do tai nạn xây cất và hiện nay, ở đây vẫn còn nghĩa địa cổ, nơi yên nghỉ của những người đã chết khi xây dựng công trình... Trước khi dựng ngọn hải đăng Kê Gà, người Pháp đã xây một ngôi nhà, vách dày nửa mét, có 8 phòng rất rộng rãi, lấy đó làm văn phòng chỉ huy công trường. Phía trước căn nhà, họ trồng hai hàng cây sứ, vừa để chắn gió, vừa để làm đẹp cảnh quan. Và cho đến nay, hầu hết các "cụ sứ" hơn trăm tuổi vẫn "trơ gan cùng tuế nguyệt" như mãi muốn đồng hành cùng ngọn hải đăng lịch sử trong công cuộc giúp những người đi biển nhận ra đâu là bến, bờ.
![]() |
| Những bậc đá dẫn lên ngọn hải đăng. |
Bước lên bậc tam cấp, chúng tôi bắt gặp ngay hải đăng Kê Gà, một công trình kiến trúc "rặt Pháp", cổng vào có gắn phiến đá cổ chạm rõ năm hoàn thành 1899. Đó là một đài bát giác hoàn toàn bằng đá, có độ cao từ mặt đất đến chóp đèn là 41,5m và độ cao từ tầm ngọn đèn đến mặt biển là 65m. Kích thước mỗi cạnh của chân tháp là 2,6m. Trên ngọn tháp có bóng đèn công suất lớn làm tín hiệu hướng dẫn tàu bè qua lại.
Điều đặc biệt ấn tượng là toàn bộ công trình gồm toàn những phiến đá được đẽo gọt công phu và kết dính với nhau bằng một loại vữa đặc biệt, hơn trăm năm không có một vết rạn, như một mũi tên kiêu hãnh vươn lên trời xanh. Hướng dẫn viên du lịch Trương Hoàng Nam tiết lộ một bí ẩn: Cho đến nay, các nhà khảo cổ vẫn chưa rõ đá hoa cương được sử dụng để xây ngọn hải đăng Kê Gà được người Pháp đưa từ đâu đến, vì trong khu vực này không hề có đá cùng loại. Và người ta cũng không rõ công trường chính mà các kiến trúc sư và kỹ sư xây dựng Pháp sử dụng trong quá trình thi công ngọn hải đăng này được đặt ở đâu, bởi tất cả những khối đá hoa đều đã được chạm, khắc thành từng ô, từng hình cụ thể, trước khi được khớp với nhau tại chính công trình xây dựng ngọn hải đăng...
Để lên được đỉnh ngọn hải đăng Kê Gà, tôi và Nam phải bước qua 183 bậc thang cuốn theo hình trôn ốc, được chiếu sáng tự nhiên bằng các ô cửa kính dày 5 ly cố định vào mặt đá bằng những thanh giằng và con tán, con ốc đồng có độ tuổi hơn một thế kỷ. Nghe Nam kể, những bậc thang xoáy trôn ốc liên tục và không có chiếu nghỉ ở lưng chừng làm nhiều du khách phải hụt hơi khi leo lên đây.
Không ít người phải bỏ cuộc, nhưng nếu đã kiên trì leo lên cao, khi những ô cửa kính bắt đầu xuất hiện, thì cũng là lúc những nỗ lực của họ được đền đáp, bởi qua những ô cửa kính nhỏ ấy, sẽ nhìn thấy biển xanh thăm thẳm, những đường uốn lượn xa xa, với một vài con thuyền bình yên, thấp thoáng ngoài khung cửa, trông thơ mộng như bức tranh phong cảnh hữu tình. Quả thật, khi đã leo lên đến đỉnh của ngọn hải đăng, bước chân ra lan can đài quan sát, tôi cảm thấy bị choáng ngợp trước khung cảnh bát ngát bên ngoài. Đứng trên đài cao, nghe gió lồng lộng thổi giữa bao la đất trời, thấy lòng mình trào lên một tình yêu quê hương, đất nước...
* *
*
Anh Nguyễn Văn Sáu, Trạm trưởng Trạm Hải đăng Kê Gà, người có thâm niên hơn 30 năm trong ngành và đã từng công tác tại nhiều trạm hải đăng xa xôi, hiểm trở như Hòn Lớn (Nha Trang), Cù Lao Xanh (Bình Định)... cho biết, ngọn hải đăng Kê Gà nằm trên một đĩa đồng xoay tự động theo chiều kim đồng hồ, gắn 3 thấu kính hội tụ, hoạt động bằng mô tơ từ trường. Giữa đĩa đồng là 2 ngọn đèn công suất 1.000W, hễ bóng này trục trặc thì bóng kia tự động bật sáng để phát tín hiệu hải đăng. Để ngọn đèn biển này hoạt động không ngừng nghỉ năm này qua năm khác là cả một nhà điện khổng lồ, bên trong có hàng trăm bình lưu điện từ hệ thống panel năng lượng mặt trời.
Tuy nhiên, vào những mùa mưa bão ròng rã cả tháng, nhân viên của trạm phải vận hành thêm máy phát điện mới đủ năng lượng đảm bảo cho đèn và cho sinh hoạt của đội. Trạm Hải đăng Kê Gà hiện có 6 cán bộ, trong đó, người gắn bó lâu nhất với trạm đã gần 20 năm, người mới đến cũng ngót nghét chục năm. Hàng ngày anh em đều bận bịu, trong vòng 24 giờ phải lên xuống ít nhất 2 lần để vận hành, che bạt và vệ sinh ngọn tháp. Hôm nay, trạm chỉ còn lại 3 người, ngoài anh Phúc, anh Trung, có thêm anh Nam. Ba người trông coi một ngọn đèn biết bao công việc trên một hòn đảo rộng lớn...
... Rời Hải đăng Kê Gà - một phong cách kiến trúc tôn trọng thiên nhiên, hài hòa giữa người và biển, chúng tôi mang theo sự cảm phục về công việc đầy trách nhiệm của những người quanh năm chỉ làm bạn với biển trời, cả cuộc đời chỉ biết đến "sự sống" của ngọn hải đăng. Khi đã yên vị trên chiếc thuyền của anh Sáu Lắm, ngoái đầu nhìn lại, tôi vẫn thấy trên tầng gác cao nhất của ngọn hải đăng, những cánh tay giơ lên vẫy vẫy. Và bất giác, tôi cũng đưa tay lên vẫy như lời chào tạm biệt và hẹn gặp lại những người làm nhiệm vụ "thức" cùng biển, từng ngày, từng giờ vật lộn với sóng gió, bão táp giữa mênh mông sóng nước... để hoàn thành nhiệm vụ.









