Biên phòng - Trước mùa xuân, tôi tìm về Hố Quáng Phìn sau gần 20 năm đổi mới nền kinh tế đất nước, sau 3 năm thực hiện "chương trình xây dựng nông thôn mới" để có cái mà so sánh về một thời kỳ "Nhà nước và nhân dân cùng làm".
![]() |
| Những bước chân không mỏi gùi đất phủ lên đá trồng ngô. Ảnh: INTERNET |
Để có một bước tiến dài trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, đưa chương trình xây dựng nông thôn mới vào thôn bản như hôm nay thật không dễ chút nào. Vậy mà tôi phải ngỡ ngàng trước con đường cắt núi đá cả chục mét chiều cao để có mặt đường đủ cho một xe "4 bánh" đi qua. Sau khi Hố Quáng Phìn nhận được nhiều sự hỗ trợ của các chương trình, dự án, nhận được nhiều sự giúp đỡ của tỉnh, của huyện đã và đang vươn tới. Đó là cơ hội, nếu không biết nắm bắt thì nó sẽ chuội đi như mưa trên đá.
Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là công sức, trí tuệ của cán bộ và đồng bào nơi đây. Bên cạnh đó là những mục tiêu phát triển kinh tế của xã, của huyện và của tỉnh hợp với lòng dân, hợp với vùng đá. Chương trình, dự án, mục tiêu phát triển không tách rời với tập quán và kinh nghiệm sản xuất của đồng bào.
... Ngày ấy tôi về Hố Quáng Phìn - một xã vùng sâu, vùng xa của huyện Đồng Văn, đường sá đi lại khó khăn, toàn xã có 9 xóm bản thì chỉ có xóm Chính Chù Ván là xóm người dân tộc Dao có 10 hộ, còn lại 8 xóm bản khác là 100% dân tộc Mông. Bởi vì toàn xã ở lọt thỏm trong vùng đá, nên các thôn bản đều cách xa nhau, có xóm cách xa trung tâm xã cả nửa ngày đường. Rồi thậm chí nhà cũng cách xa nhà, chỗ ở hoàn toàn phụ thuộc vào độ dốc của núi đá và đất nằm trong hố đá có thể canh tác được.
Nếu theo tiêu chí về đói nghèo như hiện nay mà mang áp dụng với đời sống đồng bào Hố Quáng Phìn cách đây gần 20 năm thì toàn xã chẳng được hộ nào có mức sống trung bình. Trong đó có tới hai phần ba số hộ nằm trong diện đói và có hàng trăm hộ "đứt bữa" thường xuyên. Nhưng người dân nơi đây vẫn bám vào đá núi, bám vào những hốc đất, chút mùn đá trong hố đá mà trỉa ngô, trỉa đậu, tra bí mà kêu cầu thần núi, thần rừng. Cũng không ít lần cán bộ định canh, định cư nói với tôi: "Khổ thế đấy, muốn đưa đồng bào xuống núi, muốn kiếm chỗ đất dễ ăn, dễ làm, tiện nước, tiện đầu tư... Vậy mà đồng bào có nghe đâu, xuống rồi lại lên, đi rồi lại về, mất bao nhiêu công sức, tiền của của Nhà nước...".
Có đặt mình vào nơi ở của người dân mới hiểu hết nỗi lòng họ. Họ không nỡ bỏ đá mà đi, cái chân đã quen với lưng đá, cái tay đã quen với mùa tra hạt, cái mũi đã quen hít thở hơi sương rồi, đâu dễ dứt ra được. Nếu đồng bào Mông ở Hố Quáng Phìn lập bản từ ngày thiên di sang đây thì tính đến nay đã 300 năm. 300 năm đời nọ gối đời kia thì ít nhất cũng đã mười mấy đời gắn đá. Thế thì chuyện đi ở đâu có dễ như cái anh cán bộ định canh, định cư nói...
Vẫn đất ấy, con người ấy, qua mưa, qua nắng, rồi lần hồi qua năm tháng, những hố đất để gieo trồng trên đá của Hố Quáng Phìn ngày một bạc màu thêm. Mỗi năm chỉ vừa cho một vụ ngô, vụ bí, kèm thêm chút đậu răng ngựa, ít cải cay. Năm nào may lắm, mưa nhiều thì ném được ít tam giác mạch... Thậm chí nương dong riềng trồng trong hốc đá cứ lụi dần đi, sau mỗi ngày nắng lại nằm dài trên mặt đá chờ đợi. Đêm đến, có sương về, ngọn dong riềng ngóc dậy, khi chưa kịp ngẩng lên hết thì lại đón cái nắng trên đá của ngày hôm sau. Thế là củ dong riềng chỉ bằng ngón tay người lớn.
Đổi mới nền kinh tế đất nước tràn về, Hố Quáng Phìn đón nhận những chương trình, dự án hỗ trợ của Đảng và Nhà nước đầu tư, đón nhận những dự án của các tổ chức quốc tế, của những tổ chức phi chính phủ. Hố Quáng Phìn cũng như bao xã phường trên địa bàn tỉnh Hà Giang, tiến vào chương trình xây dựng nông thôn mới, đón nhận những quyết sách để thay da đổi thịt, hình thành một diện mạo mới. Bước chân đầu tiên là đường giao thông nông thôn, nối các thôn xóm vào xã, rồi nối xã vào huyện, vào tỉnh. Khi có những con đường cho "con ngựa ăn xăng không ăn cỏ, ăn ngô" thì mới nhanh được. Muốn mua cân muối, cân gạo, cân đường, mua cái quà, cái cuốc, mang đổi con gà, con ngan... chỉ mất vài ba tiếng, vèo một cái ra tới huyện. Thế mà trước đây, muốn ra chợ huyện phải đi về mất hai ngày, gói theo mèn mén. Con gà khi đi, vợ mang cân được hai cân rưỡi, thế mà khi ra đến chợ, đến huyện chỉ còn cân chín. Bán xong, thèm quá, ăn bát thắng cố, hay bát phở, khi định mua cái lưỡi cày không đủ tiền, lại về không. Còn bây giờ, có đường rồi, có cái Deem tàu rồi, phóng ào một cái, mất nửa ngày, còn thừa ra "một ngày rưỡi" để làm nương. Con gà hai cân rưỡi, ra tới huyện chỉ hao không đến một lạng, vẫn còn hai cân tư...". Đấy là lời tâm sự của anh Lầu Seo Mùa, người của Hố Quáng Phìn.
Ông Chủ tịch xã kể: "Hôm anh cán bộ dự án Hỗ trợ hộ nghèo vào làm việc với xã, Hố Quáng Phìn có 100% số hộ nằm trong diện được hỗ trợ thiết bị mắc điện và tiền điện, ngoại trừ một số cán bộ xã, cán bộ tăng cường và giáo viên. Thế là gần như cả xã được Chính phủ biếu không điện sinh hoạt, kéo đến tận nhà. Thôi thì cán bộ ngành điện lo từ cái đinh vít, cái công tắc, cái bóng điện. Sau mấy tháng leo đá, kéo cột, kéo dây qua đá rồi cái ánh sáng chạy theo dây cũng sáng. Có điện, cái cối xay ngô để buồn, mạng nhện mắc lên mốc meo, mỗi xóm lại có thêm một cái máy nghiền ngô làm mèn mén mà trước đây mỗi gia đình cứ phải mất không một lao động. Đấy là nói nhà ít người ăn, còn nếu nhà đông người, có khi phải khua nhau dậy xay ngô từ 4, 5 giờ sáng. Bọn trẻ con thì đứa nào cũng hớn hở như hoa, tối đến xem ti vi, cái chữ có điện sáng nó viết cũng đẹp hơn”.
Hệ thống nước tự chảy được Nhà nước lắp ống dẫn từ trên mãi núi cao về. Rồi đến hồ treo, nước ngầm khoan... Tất nhiên chưa đủ, nhưng xóm bản nào cũng có bể chứa nước công cộng, bể chứa nước gia đình. Từ đó, việc trồng cỏ nuôi bò, gieo trồng ngô, gieo trồng đậu tương giống mới, trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia cầm cứ tự nhiên đi vào đời sống từ nhà.
Ngày ấy, sau "Đại công trường" tôi gặp ông Lầu Mí Sắc, Chủ tịch UBND xã Hố Quáng Phìn tại thị trấn Đồng Văn, khi ông đang dự lớp tập huấn. Ông nói như tâm sự: "Trước ngày đổi mới nền kinh tế đất nước, Hố Quáng Phìn thật sự là khó khăn, nhiều lúc tưởng không cầm cự được với cuộc sống thường nhật. Cây ngô vẫn là thứ lương thực "chủ đạo" hằng ngày của đồng bào. Nhiều, rất nhiều gia đình chỉ có ngô đủ ăn trong 6 tháng. Những gia đình ở Hố Quáng Phìn mà có được 2 con bò để cày nương đã là giàu lắm rồi. Cả xã chiếm tới hai phần ba số hộ không có sức kéo để làm nương, cày ruộng. Thế là người dân đều làm nương ngô theo kiểu "truyền thống", vẫn cái quà, cái cuốc, chiếc xà beng, con dao quắm. Rồi tất cả đổ vào hai vai, hai bàn chân, như địu đất lên bỏ vào hốc đá, nhổ cỏ, chọc lỗ, hay những chỗ hố nhỏ quá thì phải bới bằng tay để tra hạt”.
Bây giờ, Hố Quáng Phìn có điện, có đường, có trường, có trạm và có những mô hình kinh tế hộ bằng cách "cầm tay chỉ việc". Từ cách chăn nuôi bò thả núi, đến vỗ béo bò nhốt chuồng, rồi chăn nuôi dê, nuôi gà siêu trứng, nuôi ngan siêu thịt. Đặc biệt là cây ngô giống mới được đưa đến từng nhà. Cán bộ khuyến nông xã, khuyến nông huyện xuống tận nơi, hướng dẫn cách trồng, cách chăm bón. Cứ thế, "mưa dầm thấm lâu" cây ngô giống mới có năng suất cao đã đi vào đời sống nhân dân. Những vụ thu ngô đã cho năng suất gấp 3, gấp 4 lần khi trồng cây ngô vàng bản địa. Đàn bò, đàn dê có nước, có cỏ Goa-tê-ma-la, có cỏ voi trồng quanh nhà, quanh nương nên cũng phát triển nhanh. Bên cạnh là sự giúp sức của Ngân hàng chính sách xã hội, sự hỗ trợ của chương trình xây dựng nông thôn mới, Hố Quáng Phìn nói riêng và huyện Đồng Văn nói chung đã có những mô hình kinh tế đột phá.
Ông Ly Chứ Sử, Trưởng thôn Tả Cồ Ván là một thôn có 103 hộ, dân số đông nhất xã cho biết: Do nhận thức và mặt bằng dân trí thấp, đồng bào cứ phải xem cán bộ làm rồi làm theo. Tuy bằng cách làm này có chậm một tí nhưng ăn chắc, họ cứ "bắt chước" đến đâu là được đấy. Như hiện nay đồng bào đang phát triển mạnh đàn bò và trồng cỏ để chăn nuôi, đã có nhiều hộ bảo nhau là chỉ cần nuôi 1 con bò thì bằng trồng 2ha ngô. Đàn bò hiện nay trên toàn xã có gần một nghìn con, trong đó có trên 50% là bò hàng hóa. Rồi đàn dê gần 1.500 con, nhiều gia đình đã có đàn dê tới gần 100 con. Dê ấy, bò ấy đều xuất phát từ chương trình kinh tế của tỉnh và sự hỗ trợ vốn của Trung ương và cũng nằm trong mục tiêu, hướng phát triển kinh tế của huyện.
Đặc biệt, bản Tả Cồ Ván có nghề làm khèn Mông, đang xây dựng làng du lịch văn hóa. Tả Cồ Ván đang phát triển mạnh từ khi cao nguyên đá Đồng Văn được UNESCO công nhận là Công viên địa chất toàn cầu và có chương trình xây dựng nông thôn mới hỗ trợ. Đã có nhiều khách Tây, khách ta tìm về Hố Quáng Phìn.
Ông Sùng Mí Sình, Bí thư Đảng ủy xã khẳng định: Người dân Hố Quáng Phìn đã và đang "nhập cuộc" và đã có những thành công nhất định. Tuy có khó khăn hơn nhiều vùng khác, nhưng nhờ có chương trình xây dựng nông thôn mới, Hố Quáng Phìn đã "nhận diện" được chính mình, đồng bào đã có nhiều nương xếp đá, nhà nào cũng có mô hình kinh tế hàng hóa đa thu nhập. Trên địa bàn xã đã có nhiều hộ khá giả, có trên 50% số hộ có mức sống từ trung bình trở lên. Suốt 10 năm qua, 98% trẻ em trong độ tuổi được tới trường. Đời sống đồng bào được nâng cao khi có điện, có đường, có trạm y tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân... Đặc biệt là, Hố Quáng Phìn đã định hình được hướng phát triển kinh tế hộ một cách bền vững trong mùa xuân mới.








