Biên phòng - Ông là một danh tướng, đa mưu túc kế, viết sách "Hổ trướng khu cơ" mà có người cho là sánh với "Binh thư yếu lược" của Trần Hưng Đạo. Ông lại còn là một nhà thơ, một nhà cải cách, mở mang bờ cõi. Ông là đệ nhất Khai quốc công thần của 9 đời chúa Nguyễn và 13 đời vua Nguyễn.

Lịch sử có những khúc quanh bất ngờ như là chuyện lập nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng. Chỉ nhờ một lời khuyên của Trạng Trình "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (Hoành Sơn một dải, vạn năm dung thân) mà Nguyễn Hoàng đang ở thế bị o ép, thậm chí tính mạng bị đe dọa, lại có một cách giải đúng với bối cảnh bấy giờ: Vượt Hoành Sơn (đèo Ngang) vào trấn thủ Thuận Hóa. Với 1.000 binh sĩ và vợ con chủ yếu ở quê hương Hà Trung, Thanh Hóa vào lập nghiệp ở Ái Tử, Quảng Trị, Nguyễn Hoàng đã dựng nghiệp thành công mở đầu cho nhà Nguyễn.
Nguyễn Hoàng, còn gọi là Chúa Tiên, được mệnh danh là người có tài thu phục nhân tài và lòng dân. Nhân tài khắp nơi đổ về phụng sự chúa Nguyễn. Một trong những người cực tài đó là Đào Duy Từ.
Công lao của Đào Duy Từ được chính sử nhà Nguyễn đánh giá rất cao: "Giúp chính sự trong 8 năm, đứng đầu Công Thần Khai Quốc. Chết tặng Thái thường Tự Khanh Lộc Khê Hầu. Đầu đời Gia Long được thờ phụng ở Thái Miếu, năm thứ 9 được liệt thờ ở miếu Khai Quốc Công Thần. Năm Minh Mệnh thứ 12 được truy tặng Đông Các Đại học sĩ Thái sư Hoằng Quốc Công" (Sách Đại Nam Nhất Thống Chí).
Ông là người thông minh, đã từng đi thi đỗ Á Nguyên khoa thi Hương năm 1593, dưới triều Lê Thế Tông lúc mới 21 tuổi. Sau đó, triều đình phát hiện ông là con nhà phường chèo, vì vậy không cho ra làm quan. Định kiến bấy giờ phường chèo là "xướng ca vô loài". Tưởng như con đường công danh chấm dứt, nhưng ông là người có chí. Vua Lê, chúa Trịnh không dùng thì ông tìm đường vào Nam theo chúa Nguyễn.
Đất đặt chân của ông là xứ Tùng Châu, Hoài Nhơn, Bình Định. Ông ẩn mình trong thân phận của một kẻ nghèo chăn trâu cho một nhà giàu, nhưng trong đầu không ngừng nghiên cứu thời cuộc, phương hướng trị quốc. Nhà điền chủ biết ông là người kỳ tài, liền tâm sự với Trần Đức Hòa - một viên quan địa phương. Trần Đức Hòa gả con gái cho Đào Duy Từ và tiến cử với chúa Nguyễn Phúc Nguyên (dân gian gọi là chúa Sãi).
Từ bấy, con đường quan lộ của ông thăng tiến, thỏa sức phát huy tài thao lược. Xem thế mới biết, ông là người có được chữ "nhẫn" biết chờ thời để gặp được minh chủ. Khi đó là năm 1627, ông đã vào tuổi 55, đến tuổi lên lão ở các làng quê rồi. Trong lịch sử nước ta hiếm có những trường hợp làm quan muộn như vậy, nhưng sự nghiệp ngắn ngủi 8 năm làm quan của ông cũng đã để lại xiết bao oanh liệt.
Công lớn nhất của ông là về mặt quân sự. Chúa Nguyễn đã vượt Hoành Sơn vào Nam, thu phục lòng người và mở mang bờ cõi. Trong lúc đàng ngoài đang còn có sự giằng co quyền lực giữa các chúa Trịnh, vua Lê và nhà Mạc. Tướng Mạc cũng đem 60 chiến thuyền đi theo đường biển vào đánh Nguyễn Hoàng, nhưng bị thua đau. Chúa Trịnh nhiều lần sai tướng vào Thuận Hóa đòi chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho con ra chầu và cống nạp 30 con voi, 30 chiến thuyền, chúa Nguyễn không chịu, vì thế xảy ra cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ nhất. Quân Trịnh đại bại, Đào Duy Từ khuyên chúa Nguyễn ngoại giao mềm mỏng với đàng ngoài.
Một mặt lập tuyến phòng thủ Trường Dục ngăn quân Trịnh. Một mặt mở mang bờ cõi chiếm được châu Nam Bố Chánh. Sau đó, Đào Duy Từ lại khuyên chúa Nguyễn đắp một lũy nữa kiên cố hơn, được gọi là lũy Thầy. Nhờ có 2 lũy trên mà quân Nguyễn đã ngăn được quân Trịnh trong 2 lần giao tranh khi Đào Duy Từ còn sống và 5 lần giao tranh sau khi ông mất. Nhờ đó, chúa Nguyễn đã củng cố được giang sơn của mình.
Đào Duy Từ có công trong việc đắp hệ thống lũy, nên chúa Nguyễn rất coi trọng ông, gọi Đào Duy Từ là "Thầy" và trong dân gian ngày nay cũng gọi đó là lũy Thầy. Ngày nay, lũy Thầy vẫn còn, ở ngay thành phố Đồng Hới, Quảng Bình và được xếp hạng di tích Quốc gia. Công sự lũy Thầy đã góp phần không nhỏ giúp cho 9 đời chúa Nguyễn tồn tại, đúng như câu thơ của Tùng Thiện Vương:
"Nhất tự hải sơn Sư lũy tráng
Lộc Khê di liệt đáo kim trường".
Dịch nghĩa: Từ khi có lũy Thầy, non sông bền vững. Lộc Khê (tên hiệu của Đào Duy Từ) để lại sự nghiệp dài lâu. Hơn 2 thế kỷ sau, ông vua Thiệu Trị còn phong cho lũy Thầy tên gọi "Định Bắc trường thành".
Về quân sự, ông còn để lại tác phẩm “Hổ trướng khu cơ”. Đó là một binh thư do Đào Duy Từ viết để huấn luyện quân sĩ như chế tạo hỏa tiễn, thủy chiến, cách chế biến nước mặn thành nước ngọt khi đi biển, đánh bộ, đóng trại, các thế trận...
Bên cạnh nghiệp võ, ông còn mở mang bờ cõi phương Nam, làm cho đàng trong phồn thịnh, nước lớn lên, người nhiều ra, góp phần xây dựng một chính quyền rất được lòng dân. Ông cũng đề nghị chúa Nguyễn tổ chức thi cử để chọn người tài và thực hiện nhiều chính sách có lợi cho quốc kế dân sinh. Theo dân gian, ông còn là tác giả của nhã nhạc cung đình Huế, vũ khúc tuồng Sơn Hậu, bài Ngọa Long Cương vãn.

Các đời chúa Nguyễn và vua Nguyễn biết ơn ông. Năm 1805, nhà Nguyễn vinh danh ông là Khai Quốc Công Thần, được thờ ở nhà Thái Miếu, được cấp 15 mẫu ruộng tự điền và 6 người trông coi mộ. Năm 1932, vua Bảo Đại sắc phong cho ông làm Thần Hoàng làng Lạc Giao ở đất "Hoàng Triều Cương Thổ, ở Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên.
Ở quê ông, xã Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia (nay là làng Hoa Trai, xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia), Thanh Hóa lập đền thờ ông. Nơi ông lập nghiệp là làng Tùng Châu, xã Hoài Thanh (nay thuộc thôn Ngọc Sơn, xã Hoài Thanh Tây), huyện Hoài Nhơn, Bình Định cũng lập đền thờ ông. Nơi đây còn có lăng Đào Tá Hán là người thân sinh ra ông. Một nơi thờ ông nữa ở thôn Cự Tài, xã Hoài Phú. Lăng mộ ông thuộc địa phận thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, đều cùng huyện Hoài Nhơn. Hàng năm, vào ngày giỗ Đào Duy Từ 17 tháng 10 âm lịch, con cháu họ Đào thắp hương ông và tổ chức cúng tế.
Còn một nơi thờ khác, nơi ông được vua Bảo Đại phong làm Thành Hoàng làng ở đình làng Lạc Giao, phường Thống Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, là nơi mà ngôi đình làng người Việt đầu tiên lên lập nghiệp vùng này.
Có lẽ "duyên trời" đã cho chúa Nguyễn Phúc Nguyên gặp được Đào Duy Từ, để rồi từ bấy coi ông là Thầy, là mưu sĩ số 1, để mở mang cơ nghiệp nhà Nguyễn. Cũng vậy, Đào Duy Từ khi gặp chúa Nguyễn đã ở tuổi lên lão, mới gặp người minh chủ để phát huy trí thông minh đảm lược trời sinh của mình. Có lẽ, cuộc gặp gỡ định mệnh này cũng là một khúc quanh của lịch sử trong sự nghiệp mở cõi về phương Nam. Chỉ đến triều Nguyễn thì "Hoàng Triều Cương Thổ" mới mở rộng lớn nhất như ngày hôm nay.
PGS.TS. Trịnh Sinh







