Biên phòng - Bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, cho đến nay vẫn được coi là bản tuyên ngôn đầu tiên của nước Đại Việt. Bởi nó không chỉ mang hồn thiêng dân tộc, khẳng định ý chí làm chủ, tinh thần bảo vệ giang sơn bờ cõi của Tổ quốc từ thủa hồng hoang, mà còn là “lời hịch” đanh thép để khẳng định với thế giới, nước Nam có chủ, người Việt Nam có quyền tự do, nước Việt Nam do người Việt Nam cai quản trên lãnh thổ của mình. Trải qua bao thăng trầm biến cố của lịch sử, “Nam quốc sơn hà” vẫn giữ nguyên giá trị lịch sử, văn hóa, ăn sâu, bám rễ vào tiềm thức người Việt, không dễ gì có thể đánh đổi được.
| |
| Bìa Ngữ văn lớp 7, trong đó có in bài “Nam quốc sơn hà” theo bản dịch mới. |
Nhiều ý kiến xung quanh bản dịch mới
Những ngày qua, nhiều dịch giả, thầy cô giáo, học sinh và phụ huynh trên cả nước băn khoăn và có nhiều ý kiến trái chiều khi bài thơ “Nam quốc sơn hà” được đưa vào sách Ngữ văn lớp 7 dịch thành phiên bản mới của dịch giả Nam Thước - Lê Trân. Bản dịch mới dịch rằng: “Sông núi nước Nam vua Nam ở/ Vằng vặc sách trời chia xứ sở/ Giặc dữ cớ sao phạm đến đây/ Chúng mày nhất định phải tan vỡ”.
Nhìn ở góc độ thời gian, thì “Nam quốc sơn hà” (bản dịch cũ): “Sông núi nước Nam vua Nam ở/ Rành rành định phận ở Sách trời/ Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”, được coi là bản “Tuyên ngôn độc lập” đầu tiên của dân tộc. Nó không chỉ có giá trị lịch sử, mà còn có giá trị nhân văn, mang hồn cốt dân tộc thời hồng hoang sơ khai.
Ở thời kỳ năm 1076-1077, khi “Nam quốc sơn hà” ra đời, nó đã trở thành bản hùng văn của Tổ quốc, hiệu triệu tinh thần yêu nước. Mỗi câu, từ trong bài thơ là mỗi lời sắt thép, khẳng định ý chí đấu tranh, quyền tự chủ, tự quyết, tự tôn dân tộc của nước Đại Việt. Toàn bộ bài thơ “Nam quốc sơn hà” như một lời hịch đanh thép, tuyên bố với thế giới rằng, đất nước Việt Nam phải được người Việt Nam cai quản, mưu sinh, đấu tranh gìn giữ.
Và không phải ngẫu nhiên mà “Nam quốc sơn hà” ăn sâu, bám rễ vào tiềm thức nhân dân và khẳng định được giá trị trường tồn của nó, mà rõ ràng, bài thơ đã được dịch sát nghĩa , có giá trị lịch sử, có tính chân thực được nhiều thế hệ người Việt trân trọng.
Nhìn ở góc độ câu từ văn chương, thì bản dịch mới không sát nghĩa, không chân thực, không xuôi bằng bản dịch cũ. Nếu ta đem so sánh lời thơ câu thứ hai của bản dịch cũ “Rành rành định phận ở sách trời” với “Vằng vặc sách trời chia xứ sở” ở bản dịch mới, thì rõ ràng, bản dịch cũ hay hơn cả về vần và câu từ mang tính triết lý sâu sắc. Tác giả của bản dịch cũ đã tinh ý chỉ rõ ràng rằng; “Sông núi nước Nam” đã “rành rành”, được thiên đình ghi trong sổ sách, không cần phải bàn cãi. Sông núi ấy phải được người Việt thống trị, cai quản và sinh tồn trên chính “sơn hà” của mình.
Cũng là cách thể hiện tinh thần đấu tranh với hành động xâm lăng của giặc ngoại bang, nhưng hai câu thơ của bản dịch cũ có sức nặng hơn, chứa đựng chất “thép” bền bỉ, kiên trung; thể hiện lòng căm thù và ý chí quyết tâm đánh đuổi giặc ra khỏi bờ cõi:“Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”. Còn ở bản dịch mới, tính đấu tranh nhẹ hơn: “Giặc dữ cớ sao phạm đến đây/ Chúng mày nhất định phải tan vỡ”.
Nhìn ở góc độ tinh thần đấu tranh cách mạng, chủ nghĩa anh hùng dân tộc thì đối với quân thù “không thể vỗ vai nhắc nhẹ” kiểu “Giặc dữ cớ sao phạm đến đây”; mà phải chỉ thẳng: “Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm” chính là lời cảnh báo không khoan nhượng. Trong cuộc chiến tranh vệ quốc, để thắng giặc, chúng ta phải “đánh tơi bời”, hoặc chí ít cũng đánh tan tành, chứ không thể nói “Chúng mày nhất định phải tan vỡ” chỉ là lời mặc định thiếu sức thuyết phục. Mặt khác, cách dịch “đánh tơi bời” sát với chiến thuật quân sự trong chiến đấu, còn dịch “nhất định phải tan vỡ” như hàm ý chỉ đồ vật. Dịch như vậy, đúng nhưng không trúng, nói cách khác, đúng nhưng không sát.
Từ sự so sách này, ta có thể khẳng định, bản dịch “Nam quốc sơn hà” mới của dịch giả Nam Thước – Lê Trân không ưu việt hơn bản dịch cũ.
Có nên đưa vào sách giáo khoa?
Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt do Trần Trọng Kim dịch vẫn được đánh giá là một kiệt tác văn học. Nói đến “Nam quốc sơn hà” là nói đến hồn thiêng sông núi của dân tộc, là nói đến “Sông núi nước Nam vua Nam ở, rành rành định phận ở sách trời”, chứ không thể nói “Vằng vặc sách trời chia xứ sở”. Đành rằng, đây là bản dịch mới, nhưng không hợp thời đại, thiếu sự tinh tế và mang tính chất đại chúng. Nhìn ở lăng kính dân sinh, cách dịch mới thiếu hào khí của nhân dân.
Trước dư luận và nhiều tranh cãi về bài thơ “Nam quốc Sơn hà” được dịch giả Nam Thước - Lê Trân cho ra di bản mới, khiến nhiều nhà nghiên cứu, kể cả giáo sư phải giật mình. “Đành rằng, “Nam quốc sơn hà” cũng là bản dịch từ chữ Hán, nhưng bản dịch cũ đã quá xuất sắc thì không thể thay bằng một bản dịch mới. Ở bản dịch cũ có đầy đủ “sinh khí” “hồn cốt” của dân tộc” thì nên tuân thủ nó. Việc bản dịch “Nam quốc sơn hà” cũ khắc vào tâm khảm, tiềm thức người dân đã rõ ràng, nhưng quan trọng hơn là bản dịch đó chuẩn xác. Chỉ cần đọc thôi cũng xúc động rưng rưng, hồn cốt Tổ quốc ẩn chứa trong đó” - Giáo sư Vũ Chinh nhận xét.
Đồng ý tất cả những bản dịch mới về “Nam quốc sơn hà” chỉ để tham khảo, song điều khiến nhiều giáo viên, phụ huynh học sinh trăn trở, lo ngại là nó lại được in trong sách Ngữ văn tập 1 lớp 7. Trăn trở về điều này, cô giáo có 32 năm dạy văn Quách Thị Hòa, hiện dạy học ở trường Đinh Tiên Hoàng (Bà Rịa-Vũng Tàu) chia sẻ: “Không thể có một “Nam quốc sơn hà” nào hào sảng hơn bản dịch của Trần Trọng Kim. Việc in bản dịch mới “Nam quốc sơn hà” vào sách cải cách giáo dục, vô hình trung tạo nên nhiều ý kiến trái chiều.
Nhưng, điều đáng nói ở đây là, học sinh không biết đâu là bản dịch chuẩn nhất để học. Tôi nghĩ, một tác phẩm văn học bằng chữ Hán có thể nhiều người, nhiều thế hệ dịch giả khác nhau cùng dịch là chuyện bình thường, nhưng đưa bản dịch mới vào giảng dạy mà chưa được khảo cứu thì rất không nên. Bởi bản dịch cũ đã chuẩn xác” - cô Hòa chia sẻ.
Mới đây, trả lời chất vấn đại biểu Lê Văn Lai, tỉnh Quảng Nam, về bản dịch “Nam quốc sơn hà” mới gây bức xúc trong phụ huynh học sinh, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận kết luận: “Nếu không có hiệu quả cao thì không thay thế bản dịch mới. Ban soạn thảo chương trình giáo dục phổ thông sẽ tiếp tục lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học, các chuyên gia giáo dục một cách cầu thị”.






