Biên phòng - Trên gác hai của căn nhà nhỏ trong khu tập thể Kim Liên, hằng ngày vẫn vang lên tiếng thúc búa, tiếng đục của nghệ nhân Lê Văn Phú. Trong căn phòng nhỏ vừa là nơi tiếp khách, vừa để trưng bày sản phẩm và cũng là nơi ông lao động sáng tạo. Ông làm việc say sưa, cần mẫn, tỉ mỉ tỉa tót trên những mảnh đồng lá, sáng tạo ra nhiều bức tranh độc đáo. Ít ai có thể biết được rằng, giữa phố phường Hà Nội buôn bán sầm uất, náo nhiệt lại có một không gian bình yên là nơi đã sản sinh ra một dòng tranh mới - tranh đồng thúc nổi.
![]() |
| Nghệ nhân Lê Văn Phú và tác phẩm tranh cá chép. |
Lạc vào không gian của nghệ nhân Lê Văn Phú, tôi thực sự bị cuốn hút vào một thế giới tranh dân gian khác hẳn tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống thường thấy. Không phải chỉ ở độ tinh xảo, đẹp lãng mạn, thơ mộng, sự hòa đồng giữa các chi tiết mà bởi cái hồn của cảnh sắc trong tranh, sự sống động đến kinh ngạc của con người và cảnh vật được chính bàn tay tỉ mỉ, khéo léo của nghệ nhân thúc nổi trên chất liệu đồng đỏ...
Ông Lê Văn Phú vui vẻ cho biết, người ta đã đặt cho tranh ông biệt danh "2 trong 1" vì trong tranh đồng thúc nổi của ông vừa có tính mỹ nghệ lại vừa có tính hội họa. Mặc dù hai tính đó có vẻ trái ngược nhau. Hội họa khái quát, chắt lọc, coi trọng sự sống động, truyền được tình cảm cho người xem. Còn mỹ nghệ khoe sự khéo tay, tỉ mỉ, tinh xảo. Ông đã tiến tới sự giao thoa một cách nhuần nhuyễn kĩ năng mỹ nghệ và ngôn ngữ hội họa, khiến các nhà điêu khắc cũng phải công nhận tranh đồng thúc nổi của ông Phú rất tỉ mỉ, kì công.
Ông Lê Văn Phú là con trai của nghệ nhân nổi tiếng Hà thành vào những năm 40 - 50 của thế kỷ XX với nghề chạm bạc. Từ nhỏ, ông đã thích thú với công việc của gia đình. Thấy con có thể nối nghiệp mình, người cha đã cho ông Phú theo học thêm về hội họa và phát hiện ra năng khiếu ở lĩnh vực này. Ý tưởng kết hợp hội họa và mỹ nghệ trong ông hình thành từ đó.
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang trong thời kỳ khốc liệt, chàng trai Lê Văn Phú đã tình nguyện lên đường ra mặt trận. Sau 20 năm tham gia quân đội, năm 1984, ông phục viên, trở về với cuộc sống đời thường. Lúc đó ông đã 42 tuổi, mới bắt tay thực hiện những ước mơ còn dang dở với nghề truyền thống của gia đình.
Thoạt đầu, ông phát hiện ra dòng tranh dân gian vốn cổ được khai thác thể hiện trên nhiều chất liệu khác nhau, nhưng hầu như chưa có trên chất liệu đồng. Ý định chế tác tranh đồng thúc nổi của ông ra đời từ đó. Thế là, hằng ngày, trong góc nhà nhỏ với vài mảnh giấy, cây bút, vài miếng đồng xin được cùng mấy cái "ve" đủ kích cỡ được tận dụng từ trục xe đạp hỏng, ông miệt mài vẽ mẫu, rồi mày mò thúc...
Công việc tưởng đơn giản nhưng rất khó khăn, bởi việc "thúc" chủ yếu tác động từ mặt trái của chất liệu đồng. Sự miệt mài sáng tạo đã ươm mầm những thành công. Khi lật lại lá đồng, mọi cảnh vật nổi lên hệt như bản vẽ mẫu.
Ông Lê Văn Phú cho biết, ông lựa chọn chất liệu đồng đỏ cũng có lý do riêng. Bởi khi hun lên, đồng đỏ sẽ tạo ra nhiều sắc độ, có cả nâu, đỏ, vàng, đen, nhiều sắc độ mà lại trầm, ấm, có độ sâu, vẻ xưa cũ. Ông Phú rất thích cái sắc độ của đồng đỏ, nhất là sau khi đã được hun lên. Ông cho rằng, đồng đỏ mà lại đánh sáng lên thì sẽ như vàng Tây, mất hết hình khối, mà cần phải có độ xỉn nhất định để không bị lóa khi nhìn vào.
Trên bàn làm việc nhỏ kê ngay gần cầu thang lên xuống trong không gian khiêm tốn của tầng hai, ông Phú cần mẫn ngồi chuyển thể những bức tranh thường sang một bản mới, vẽ lại theo ý tưởng riêng của mình cho phù hợp với chất liệu đồng trên cơ sở tôn trọng bố cục bản gốc.
Từ những bản vẽ dán vào miếng đồng, miếng đồng được ốp vào bàn xi, công đoạn cuối là thúc nổi. Với đôi bàn tay khéo léo cộng với sự lao động miệt mài, bền bỉ, ông Lê Văn Phú đã biến những miếng đồng thô cứng thành bức họa sinh động mà ông gọi đó là tranh đồng thúc nổi. Đây cũng là một khái niệm mới với giới chơi tranh thời đó.
Cái khó nhưng cũng là yếu tố làm nên nét đặc sắc của tranh đồng thúc nổi là phải lột tả những nét phớt bút lông rất nhẹ, nhiều hình họa mang tính âm dương ngũ hành trong các bức tranh dân gian... Điều dễ nhận thấy, đề tài nổi bật trong các tác phẩm của ông Lê Văn Phú là tranh phong cảnh, các họa tiết, các công trình tôn giáo, tín ngưỡng và đặc biệt là tranh dân gian.
Tuy vậy, ông không sao chép y nguyên một bản mẫu nào. Ông nói: "Quan trọng là phải đưa cái tôi, cái cảm nhận riêng của mình vào, nâng nó lên theo quan niệm của mình, đấy là về mặt kĩ thuật. Do đó, dù dựa vào những bức tranh mẫu có sẵn, nhưng tôi không bao giờ làm lại bức thứ hai, mà mỗi lần theo một kiểu".
Những thành quả sáng tạo nghệ thuật được mọi người khen ngợi, nhưng có ai biết được rằng, đằng sau đó là biết bao lần thất bại của ông. Không phải đã là nghệ nhân thì làm bất cứ cái nào cũng hay, cũng đẹp mà với tranh đồng thúc nổi phải có những phút xuất thần. Nhìn vào mười mấy bức tranh đồng thúc nổi không được ông ưng ý vẫn xếp lại một góc trên bàn làm việc, có cái đã hoàn thiện, có cái đang chờ được chỉnh sửa. Cái thì do độ nổi chưa tới, cái thì do miếng đồng mỏng quá nên bị thủng, rách ở một số chỗ. Có rất nhiều bức tranh đồng, với người khác nhìn cảm thấy rất đẹp, nhưng đối với ông, chúng cần phải được hoàn thiện hơn nữa mới tính chuyện đóng vào khung.
Để có những bức họa bằng đồng thúc nổi dán chặt tự nhiên vào khung, nền sơn mài, vải nhung, thậm chí cả mảnh bao tải thô ráp mà không cần dùng đến cái đinh, cái chốt nào, nghệ nhân Lê Văn Phú đã phải mày mò tìm hiểu suốt nhiều năm trời. Công việc có những lúc không được suôn sẻ, thậm chí tưởng như bế tắc, lại không được người thân ủng hộ khiến ông Phú nhiều lúc trăn trở, suy nghĩ. Tuy nhiên, sự động viên, đánh giá cao của giới chuyên môn và những người thưởng thức tranh trong và ngoài nước đã khiến ông vững tin theo đuổi nghề...
Ban đầu chỉ là những chi tiết mỹ nghệ đơn giản trên khổ nhỏ, đến nay, ông Phú đã cho ra đời vài trăm bức tranh đồng khác nhau. Từ những tác phẩm dân gian buổi đầu như: Đình chùa, đền đài, tranh Đông Hồ, Hàng Trống, những bức tượng Chăm... rồi thăng hoa ở những tác phẩm với đề tài tự sáng tác như "Cánh hạc bay", "Làng quê Việt Nam", "Hứng dừa"... gây ấn tượng cho người xem về vẻ đẹp lãng mạn, thơ mộng, hòa quyện giữa con người và thiên nhiên.
Mấy chục năm một mình miệt mài với những bu lông, đinh ốc, đèn khò..., ông Phú luôn mong muốn nghề tranh thúc đồng do mình khai mở sẽ tồn tại lâu dài, bền vững, để nghệ thuật thúc đồng không bị mai một hay mất dần đi. Với ông, đó là cách di dưỡng văn hóa của dân tộc.
Ở vào tuổi "thất thập", ông Lê Văn Phú rất mãn nguyện khi cậu con trai út Lê Hoàng Hiệp (1982) đã tiếp thu được ở ông những tinh hoa của nghề. Mối lo về tương lai nghề tranh đồng thúc nổi của ông Phú đã được thỏa nguyện. Tính đến nay, cậu con trai út của ông Phú có hơn chục năm nối nghề của cha và cũng đã có được cho mình những tác phẩm đầu tay ưng ý.
| Hơn 30 năm sáng tạo trong nghề, ông Lê Văn Phú đã được nhiều người biết đến qua các cuộc thi mỹ nghệ của Việt Nam cũng như quốc tế tổ chức và liên tục được giải cao. Trong số đó, danh hiệu Nghệ nhân thúc đồng duy nhất được thành phố Hà Nội công nhận (1998); danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú do Chủ tịch nước trao tặng (2010) cho thấy những nỗ lực không nhỏ của ông - người có công khai mở nghề tranh thúc đồng. Ông cũng là người tiên phong tạo nên dòng tranh đồng thúc nổi mang đậm đà bản sắc dân tộc Việt, kết tinh nhuần nhuyễn kỹ năng mỹ nghệ và ngôn ngữ hội họa. |







