Biên phòng - Một ngày cuối đông, khi hàn thử biểu trên cao nguyên đá Đồng Văn ghi nhận con số bốn độ âm, cũng là lúc tôi có mặt ở Lũng Cú, vùng đất được mệnh danh là “vầng trán của Tổ quốc”. Có lên nơi hiểm địa này, được “thưởng thức” cái lạnh tái tê luồn vào cơ thể, tưởng như len đến từng khớp xương, thớ thịt, mới thấm thía lời ai đó nói rằng, Lũng Cú là nơi thử thách lòng người, cũng là nơi mối giao cảm thẳm sâu, huyền bí giữa con người với thiên nhiên thể hiện rõ nhất…

Nhà văn hóa thôn Lô Lô Chải nằm ngay cạnh con đường rải đá dẫn từ Cột cờ Quốc gia Lũng Cú ra cột mốc 428 trên biên giới Việt-Trung. Tôi đến đây khi trời đã xẩm tối, đội múa trống của thôn đang tập những tiết mục cuối cùng để tối hôm sau biểu diễn trong bữa cơm tất niên do Đồn BP Lũng Cú tổ chức. Nghe những thanh âm của cặp trống đực-cái ngân dài từ vách núi, lan tỏa vào đại ngàn, tôi hình dung ra mối giao cảm giữa con người với thần núi, thần suối, thần rừng - như quan niệm vạn vật hữu linh của người Lô Lô miền “tột Bắc” ẩn sâu trong khúc thức, vừa huyền bí, kỳ ảo, nhưng cũng biểu cảm một cách rất đời thường.
Lại nữa, ngắm nhìn những vũ điệu uyển chuyển, phiêu linh lạ lùng của các thành viên đội múa dưới sự dẫn dắt của đội trưởng Lù Dỉ Điến, bất giác, tôi liên tưởng đến tín ngưỡng thờ đá thiêng - thần hộ mệnh của người Lô Lô trong những cánh rừng già, dường như đã tồn tại trong tâm thức của họ từ thuở hồng hoang.
Chẳng hiểu vì sao, tục thờ thần đá kỳ lạ cùng với lễ múa ma - mà theo một nhà dân tộc học người Pháp có mặt tại Lũng Cú từ những năm 30 của thế kỷ trước, thì có rất nhiều nét tương đồng với tập tục phồn thực của tộc người Melanesien sống ở giữa bể Thái Bình Dương - lại tồn tại giữa lòng chảo lênh đênh sương trắng này (?) Chỉ biết, kể từ khi người Pháp đặt chân lên vùng địa đầu Lũng Cú, qua bao biến đổi của thời gian, núi Rồng vẫn là lãnh địa của sa mộc - loài cây đẹp nhất trên cao nguyên đá - luôn sống hiên ngang giữa đất trời quan tái cùng những con người kiêu hùng, bí ẩn và dễ mến.
Phải chăng, chính những người Lô Lô cùng với nét văn hóa đặc thù do họ sở hữu, tiêu biểu là những chiếc trống đồng cổ mà vị công sứ Hà Giang người Pháp tên là Gác-đi-ê khi xưa đã phát hiện ra, nay trở thành bảo vật quốc gia, đã tạo nên nét riêng có tên “Lũng Cú” - Long Cổ, nghĩa là trống có hình rồng? Không rõ thực hư thế nào, chỉ biết rằng, ở vùng đất thượng cùng cực Bắc, ven thung lũng Thèn Ván sâu thăm thẳm, đã nghìn năm tồn tại một cảnh quan hùng vĩ, độc đáo. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa phong cảnh thiên nhiên của núi rừng trùng điệp, của mặt nước, suối, hồ, của thảm thực vật vô cùng phong phú cùng với kiến trúc nhà ở cũng như phong tục sinh hoạt đặc thù của người “tột Bắc”.
Và cho đến bây giờ, trải qua bao biến cố thời cuộc, từ một vùng đất hoang sơ với vài nhóm cư dân thiểu số bản địa quần cư với đời sống vật chất và tinh thần nghèo nàn và lạc hậu, Lũng Cú đã trở thành một trong những điểm du lịch nổi tiếng, không những của người Việt mà còn vượt ra khỏi phạm vi quốc gia. Những thông tin mà tôi có được từ Ban quản lý Trung tâm văn hóa huyện Đồng Văn đã cho thấy điều đó: Ngày đông nhất có từ 2.500-3.000 người đến Lũng Cú. Riêng trong nửa đầu tháng 12-2015, có khoảng 1.400 đoàn với 7.800 khách đã đến tham quan cột cờ Lũng Cú, trong đó khách nội địa chiếm khoảng 82%, còn lại là khách quốc tế…
…Sau giấc ngủ sâu bên bếp lửa hồng ấm áp tại nhà trưởng thôn Sình Dỉ Gai, mặc kệ mưa tuyết thổi tơi bời giữa nhiệt độ âm 4 độ, tôi cùng chủ nhà thức dậy thật sớm trong tiếng ngựa dậm chân ngoài máng gỗ. Trong khi dùng bữa sáng là bát mèn mén nóng hổi do vợ Sình Dỉ Gai vừa đồ, để “đãi khách Thủ đô cho biết thế nào là miếng ăn của người Lũng Cú”, ông Gai bảo, cái lạnh thường đến với vùng núi đá Lũng Cú sớm lắm, khoảng ba tháng trước Tết đã thấy rét thấu xương. Có lẽ vì chờ Tết lâu quá, nên từ khi những nụ hoa đào còn đang chờ thức giấc thì bà con người Lô Lô, Mông ở đây đã ăn Tết rồi.
Gần hai tuần trước Tết, nhiều nhà đã í ới rủ nhau mổ lợn và Tết thường kéo dài đến già nửa tháng giêng mới thôi. “Khi cái cuốc, con dao, con rựa, cái cày đã được dán giấy điều “niêm phong” để chúng được nghỉ Tết là lúc người Lô Lô bắt đầu ăn Tết. Tết không thể thiếu rượu ngô cùng món mèn mén được làm bằng bột ngô. Cũng không thể thiếu hội múa trống đồng để bà con chung vui ngày xuân mới…” - Sình Dỉ Gai nói, rồi chỉ tay ra một đám đất bằng nho nhỏ gần nhà dành riêng cho hoạt động múa trống đồng vào các kỳ lễ hội, nói: “Cũng như người Mông, người Lô Lô ở Lũng Cú coi mèn mén, thắng cố, rượu ngô là những thức ăn uống không thể thiếu trong các dịp lễ hội truyền thống. Và cũng sống ở nơi có bốn mùa mây sà xuống những căn nhà mái lợp bằng gỗ sa mộc. Cùng sinh ra từ rừng thông, từ những dòng suối, những cánh rừng ven núi Rồng mà…”.
Theo ông Gai thì người Lũng Cú bây giờ nhiều ngô lắm! Ăn chẳng hết thì nấu rượu để bán và để uống hàng ngày. Những năm gần đây, đời sống của bà con nhân dân xã Lũng Cú đã có nhiều thay đổi. Cùng với việc chỉ đạo, hướng dẫn nhân dân tận dụng, khai thác có hiệu quả những thế mạnh của địa phương, lãnh đạo huyện, xã vẫn xem ngô là thế mạnh để đảm bảo an ninh lương thực. “Ở Lũng Cú bây giờ, đồng bào vẫn xay ngô bằng cối đá, nặng đến mức phải hai người xay mới được. Mà cũng chỉ dám bỏ từng nắm nhỏ một lần thôi. Ngô xay ra, sàng bỏ bột nhỏ, đồ lên, khi bốc hơi thì đổ ra, xoa cho tan đều rồi lại đổ vào, làm đến ba lần như thế mới ăn được. Đó là cách nấu mèn mén, món ăn hàng ngày của người Lô Lô cũng như bà con các dân tộc sống ở vùng núi đá…” - Sình Dỉ Gai bảo thế.
Trời đã sáng rõ mặt người, men theo hàng cây sa mộc lá phủ đầy tuyết trên con đường ven núi, tôi theo trưởng thôn Sình Dỉ Gai lên đỉnh núi Rồng, lúc này đã bắt đầu hiện ra giữa tinh khôi đất trời biên giới. Đến lạ! Trong cái lạnh hun hút miền cao nguyên đá, những con người tôi gặp vẫn căng tràn khao khát, từ những sơn nữ tuổi mười tám, đôi mươi với đôi mắt long lanh, nước da mịn màng, màu đồng hun ửng hồng trong tuyết lạnh đến những cụ già đã ở cái tuổi xưa nay hiếm, nhưng cái tay, cái chân vẫn rắn chắc vì cả một đời người “sống trên đá, chết vùi trong đá”.
Gặp trưởng thôn, ai cũng nắm tay lắc lắc, hỏi xem mấy giờ Đồn BP Lũng Cú vào hội tất niên. Nụ cười nở trên khuôn mặt đỏ bừng vì bát rượu ngô chống lạnh buổi sớm, Sình Dỉ Gai hào hứng đáp từ. Dường như, vừa nói, ông vừa nghĩ về những bước nhảy thăng hoa, cuồng nhiệt, khi dịu dàng, lúc mạnh mẽ của những điệu múa trống đồng bên đống lửa trại rực hồng được đốt lên giữa sân đồn tối nay.
…Tiếp tôi tại Tổ Du lịch Lũng Cú thuộc Ban quản lý Trung tâm văn hóa huyện Đồng Văn đóng ở lưng chừng núi Rồng, phía trên đỉnh có lá cờ đỏ sao vàng thiêng liêng với diện tích 54 mét vuông - tượng trưng cho 54 dân tộc Việt Nam đang bay phần phật giữa mênh mông, trùng điệp hàng triệu đợt sóng đá, cô hướng dẫn viên xinh đẹp người Mông Dương Thị Dìn tỏ vẻ ngại ngùng: “Khách miền xuôi thông cảm vì chúng em không có nước pha trà. Ống nước dẫn lên Khu Du lịch Cột cờ quốc gia Lũng Cú đóng băng hết cả rồi!...”.
Nghe Dìn nói vậy, tôi chợt nhớ đến lời ai đó nói rằng, Lũng Cú là nơi ai cũng dám đi, dám đến, nhưng không dễ trở lại, nhất là vào mùa đông. Nghe cũng có lý, bởi ngoài “đặc sản” là cái lạnh như kim châm của gió rét miền biên ải và những cơn mưa tuyết bất chợt, để đến được nơi cần đến, khách lữ hành phải vượt qua những con đèo hiểm trở nằm trên cung đường khúc khuỷu dài hơn 160 cây số, vắt vẻo trên những triền núi đá dựng đứng ngang lưng trời. Nhưng với riêng tôi, ít nhất trong lúc này, “quan niệm” như thế đã trở nên “lạc hậu”.
Bằng chứng là ở thôn giáp biên Lô Lô Chải, nơi người Lô Lô từ nghìn đời nay cứ bám chặt vào đất, vào đá yên ngựa núi Rồng mà trụ lại cùng với loài cây sa mộc - biểu tượng của sức sống kỳ diệu giữa vùng đất quanh năm gió núi, mây ngàn, bây giờ mỗi ngày đều có hàng nghìn người trong những đoàn khách du lịch dập dìu ghé thăm. Nói như thế để thấy, mặc cho cảm giác luôn ngự trị trong đầu là, nếu trên hành trình lên Lũng Cú mà dừng chân ven đường, nói dại, nếu lỡ vài bước, bất cứ ai cũng có thể… lăn ra khoảng không trắng xóa một màu sương, xuống tận đáy vực mờ mờ khí núi dưới kia, người ta vẫn háo hức lên vùng “tột Bắc”. Lên để được tận mắt nhìn thấy một bức tranh sơn thủy hữu tình mà ông trời đã “vẽ” trên vùng trời biên cương xa ngái, với điểm nhấn là đỉnh núi Rồng cao 1.700 mét so với mực nước biển và dòng sông Nho Quế phát nguyên từ vùng núi Nghiễm Sơn, Vân Nam, Trung Quốc chảy vào lãnh thổ Việt Nam.
Tất nhiên, với mỗi con dân đất Việt, lên Lũng Cú còn là để cảm nhận sự thiêng liêng của màu cờ Tổ quốc phấp phới tung bay trên đỉnh núi Rồng, nơi mà xưa kia, Hoàng đế Quang Trung đã cho đặt một chiếc trống đồng, để mỗi canh giờ, trống lại được gióng lên ba hồi ầm vang khẳng định chủ quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của một đất nước “vốn xưng nền văn hiến đã lâu”…
…Tối nhọ mặt người, giữa tiếng lục lạc khua rộn rã trong các nương ngô, lẩn khuất trong những rặng đào núi phủ đầy tuyết trắng, tôi có mặt tại Đồn BP Lũng Cú khi tiếng trống đồng bắt đầu vang vọng hồn thiêng của dân tộc Lô Lô. Trong âm thanh trầm hùng, dường như tôi nghe thấy cả tiếng thì thầm của cổng trời đá núi. Đúng rồi! Tiếng thì thầm được phát ra từ mặt trống đã mòn đi theo năm tháng, nhưng những hình tia nắng mặt trời và chim lạc vẫn còn nguyên ở đó. Đứng bên cạnh tôi, cô gái người Mông Dương Thị Dìn thì thầm: “Nghe đài báo mai sẽ hết đợt gió mùa đông bắc. Rồi cây cối sẽ lên xanh, chim én sẽ bay về để đón xuân cùng người Lũng Cú…”
Nhâm Hồng Hắc







