Biên phòng - Bất kể nắng mưa, gian khó, những người lính Biên phòng vẫn ngày đêm âm thầm làm nhiệm vụ. Với họ, hạnh phúc lớn nhất là biên giới bình yên, cuộc sống nhân dân no ấm.
Đâu khó có... lính Biên phòng
Xưa nay, người Vân Kiều, Pa Kô thường chỉ tin tưởng họ hàng, thân tộc. Từ ngày lính Biên phòng về bản, giúp dân bao việc nhỏ to, bà con dần thay đổi quan niệm. Thậm chí, nhiều người còn kết nghĩa ăn thề với cán bộ, chiến sĩ quân hàm xanh. Ngay ông Hồ Văn Thương cũng tự nhận gia đình mình "nợ ân tình" với lính Biên phòng. Ông Thương kể, mới đây, ngôi nhà sàn của gia đình bị "bà hỏa" thiêu rụi. Trong khi ông ngước mắt lên trời mà than, BĐBP Đồn Tam Thanh đã đến ủng hộ 50kg gạo. Sau đó, họ còn giúp ông dựng lại nhà, hướng dẫn cách làm ăn. Nhờ thế, gia đình ông Thương đã qua cơn hoạn nạn. "BĐBP thương dân lắm. Ở đâu có khó khăn là ở đó có Biên phòng". Nghe vậy, Trung tá Nguyễn Đình Hoài cho hay: "Gia đình nào thuộc địa bàn đồn quản lý gặp hoạn nạn, chúng tôi cũng tìm cách hỗ trợ. Riêng số gạo thì trích từ "Hũ gạo tiết kiệm" của đơn vị". Được biết, mỗi ngày, chiến sĩ nuôi quân Đồn BP Tam Thanh để dành một phần gạo cho vào hũ. Đến nay, đồn đã tiết kiệm được hơn 1.000kg gạo và xuất khoảng 800kg để cứu trợ cho nhiều gia đình ở xã Thanh, A Túc, Xy, A Xing... Cứ thế, sau mỗi đợt thiên tai, câu chuyện về "Hũ gạo tiết kiệm" của cán bộ, chiến sĩ Đồn BP Tam Thanh lại được lưu truyền.
![]() |
Lễ kết nghĩa bản - bản hai bên biên giới diễn ra trong không khí ấm tình hữu nghị. |
Cũng như đồng bào ở tuyến Lìa, người dân bản Ka Tăng (thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị) rất nặng tình với cán bộ, chiến sĩ Biên phòng. Bao đời nay, cuộc sống dân bản quẩn quanh trong nghèo khó. Dù hay lam hay làm, nhưng họ vẫn đối mặt với cảnh chạy gạo từng bữa. Đặc biệt, phụ nữ bản Ka Tăng chịu nhiều thiệt thòi, vất vả. Trước thực tế ấy, chủ trương lập đội xe kéo của Đồn BPCK Lao Bảo đã giúp cuộc sống nhiều chị em sang trang mới. Để đội đi vào hoạt động, cán bộ, chiến sĩ của đồn đã nhóm họp chị em, thống nhất nội quy; hỗ trợ tiền mua xe kéo; tiến hành làm bảng tên phát cho từng người...
Từ 10 thành viên ban đầu, đến nay, đội kéo xe có gần 50 chị em với 30 chiếc xe kéo. Công việc khá vất vả, nhưng bù lại, các thành viên trong đội đều có thu nhập bình quân 300.000 đồng/người/ngày. Hiểu tấm lòng của BĐBP, chị em đều cam kết không chở hàng lậu và tích cực tham gia vào giữ gìn an ninh chính trị và trật tự trên địa bàn. Chị Nguyễn Thị Thương, phụ trách đội kéo xe chia sẻ: "Khó có thể diễn tả hết sự biết ơn của bà con đối với BĐBP. Cán bộ, chiến sĩ ở đây lo việc dân như chính nồi cơm của mình. Từ ủng hộ tiền xây dựng nhà tình nghĩa, hướng dẫn cách làm ăn, đến tổ chức kết nghĩa với bản, việc gì lính Biên phòng làm cũng vì dân".
Kết mối thâm giao Việt - Lào
Đến giờ, mô hình kết nghĩa bản - bản hai bên biên giới ở tỉnh Quảng Trị đang được nhiều địa phương trong cả nước nhân rộng. Thành quả ấy kết tinh từ ý tưởng, tâm sức của cán bộ, chiến sĩ Biên phòng. Chừng 20 năm trước, người dân còn xem nhẹ vấn đề ranh giới quốc gia. Ngày ngày, họ uống chung nguồn nước, làm ăn trên cùng mảnh đất với người dân nước bạn như thời chưa hoạch định biên giới. Đó là nguyên nhân nảy sinh nhiều vấn đề "đau đầu" như nạn xâm canh, xâm cư, không đăng ký kết hôn khác quốc tịch, khai thác lâm thổ sản trái phép... Các thế lực thù địch cũng lợi dụng mối quan hệ thân thiết để lôi kéo bà con làm những việc trái pháp luật. Bài toán khó chỉ được giải quyết khi Bộ Chỉ huy BĐBP Quảng Trị xây dựng mô hình kết nghĩa bản - bản.
Thiếu tá Triệu Văn Đàn, Chính trị viên Đồn BP Cù Bai kể: "Mỗi lần sang nước bạn để "làm mai mối", chúng tôi đều vận động già làng, trưởng bản tham gia. Biết ban ngày, người dân nước bạn bận rộn rẫy nương nên hễ đêm xuống, đoàn lại đốt đuốc, vạch rừng đi làm nhiệm vụ. Bên chén rượu cần, chúng tôi nói nhiều về tình hữu nghị Việt - Lào, đồng thời giới thiệu ý tưởng kết nghĩa bản - bản. Khi cuộc vui sắp tàn, ai nấy đều lo lắng vì phía bạn chưa có động thái gì. Ấy vậy mà trước lúc đoàn ra về, những người uy tín của bản bạn liền níu lại, đề nghị trò chuyện tiếp và đồng ý đặt mối thâm tình. Ngay hôm sau, đại diện dân bản bạn đã sang phía ta bày tỏ thiện chí". Cứ thế, rất nhiều "đoàn đại sứ" đã lên đường làm nhiệm vụ "xe duyên" hai bản. Tình thâm giao của người dân Việt - Lào nhờ vậy càng thắm thiết hơn.
Tháng 4-2005, BĐBP Quảng Trị tổ chức lễ kết nghĩa thí điểm giữa hai bản Ka Tăng (huyện Hướng Hóa) với bản Đen-sa-vẳn (huyện Sê-pôn, tỉnh Sa-vẳn-na-khệt). Đến nay, 23/23 cặp bản đối diện hai bên biên giới Việt - Lào đã chính thức kết tình tâm giao. Trung tá Lê Văn Sỹ, Phó Chủ nhiệm Chính trị BĐBP Quảng Trị cho biết: "Nhờ mô hình kết nghĩa bản - bản, nhận thức của người dân về an ninh biên giới đã nâng lên đáng kể. Tình trạng xâm canh, xâm cư, khai thác lâm thổ sản trái phép, kết hôn không đăng ký... cũng được hạn chế".
Không chỉ đồng lòng thực hiện Hiệp định biên giới, người dân hai bản còn có nhiều hoạt động tương trợ nhau lúc hoạn nạn. Cách đây không lâu, người dân ở hai huyện Tù Muồi và Đắkrông đều chịu ảnh hưởng nặng nề do lũ. Thế mà, chính quyền và nhân dân huyện Đắkrông vẫn gửi 15 tấn gạo hỗ trợ nước bạn. Thời điểm ấy, cầu tràn A Ngo chìm trong nước lũ, nhưng đoàn cứu trợ vẫn tìm mọi cách đưa hàng hóa qua bên kia sông. Sau trận bão, cán bộ, chiến sĩ Biên phòng cùng người dân bản La Lay (Việt Nam) còn sang bản kết nghĩa góp nhiều ngày công, giúp làm mới 27 ngôi nhà. Tinh thần tương thân tương ái của bà con còn thể hiện qua việc thăm nom nhau lúc đau ốm; góp gạo ủng hộ gia đình nghèo; hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi; chia sẻ kinh nghiệm làm ăn... Trong mọi việc, đâu đâu cũng có hình bóng cán bộ, chiến sĩ Biên phòng...








