Biên phòng - Đình Quan Lạn (nằm trên đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh) là ngôi đình cổ, có niên đại khoảng 5 thế kỷ. Qua bao biến thiên của lịch sử, ngôi đình vẫn trường tồn giữa sóng gió biển khơi trên vịnh Bái Tử Long. Nơi đây hằng lưu dấu ấn một thời sầm uất và thịnh vượng của thương cảng đầu tiên của nước Đại Việt: Thương cảng Vân Đồn. Trong hệ thống những di tích của thương cảng cổ ấy, đình Quan Lạn là nơi còn lưu giữ nguyên vẹn những kiến trúc mang đậm bản sắc văn hóa của cư dân làng biển.

Đến với xã đảo Quan Lạn, điểm di tích đầu tiên mà người dân địa phương thường truyền tụng và hướng du khách ghé thăm chính là đình Quan Lại. Đình tọa lạc tại vị trí trung tâm của đảo, nổi bật với kiến trúc cổ kính. Dù là hòn đảo khá xa đất liền, nhưng Quan Lạn lại có hệ thống di tích đình, chùa, nghè độc đáo. Trong đó, đình Quan Lạn thờ vua Lý Anh Tông, người có công lập ra trang Vân Đồn (thương cảng Vân Đồn) và tướng Trần Khánh Dư, người có công trấn ải Vân Đồn, lập công lớn trong trận đánh thuyền lương giặc Nguyên Mông. Hiện trong đình còn 18 đạo sắc phong của các vua thời Nguyễn, ghi rõ công đức của các vị được thờ phụng tại đình. Bên cạnh đó, đình Quan Lạn còn thờ cả Dương Không Lộ và “Tứ vị Thánh nương” là những vị thần thường che chở cho những người dân đi biển.
Theo chân thủ từ Nguyễn Hữu Thân, chúng tôi tham quan ngôi đình và nghe ông giới thiệu về lịch sử của ngôi đình. Đình Quan Lạn gồm một bái đường nối với hậu cung. Ngôi đình rất rộng, bề thế với 32 cột cái, 26 cột quân, cột to nhất, hai người ôm không xuể. Những cột trong đình đều được làm bằng gỗ mần lái, loại gỗ chỉ mọc trên núi đá đảo Cát Bà, thuộc nhóm gỗ đặc biệt, độ cứng trên cả gỗ lim, sến, táu và chịu được nước biển. Đến nay, trong cả nước, chỉ duy nhất đình Quan Lạn được làm từ loại gỗ mần lái này.
Quan sát bằng mắt có thể thấy các hình chạm rồng, phượng và hoa lá được chạm khắc rất tỉ mỉ, độc đáo tựa như những bức tranh nghệ thuật. Đặc biệt, hình chạm rồng có mặt ở khắp mọi nơi trong đình từ mái, xà ngang, gác mái, xà, kèo, cửa... với đủ các hình thái sống động. Mặc dù được xây dựng dưới thời Hậu Lê, nhưng những điêu khắc hình rồng trong đình thể hiện cả dáng dấp con rồng thời Lý, Trần, Nguyễn. Chính vì vậy, rồng trong điêu khắc đình Quan Lạn mỗi con mang một dáng vẻ khác nhau, không trùng lặp.
Trong đình còn có một số họa tiết lạ khác không thể tìm thấy ở bất cứ ngôi đình nào khác trên dải đất hình chữ S, đó là họa tiết con ngài tằm và con bề bề (giống thủy sản phổ biến của vùng biển này). Những hình đó đã khẳng định sự phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm và đánh bắt hải sản trên mảnh đất này từ xa xưa. Thủ từ Nguyễn Hữu Thân cho biết: “Để có được ngôi đình với kiến trúc độc đáo và đẹp như hiện nay, đã có rất nhiều người thợ mộc tài hoa nhất từ Nghệ An, Hà Tĩnh được đón ra đảo để thực hiện công trình”.
Bên ngoài, mái đình lợp bằng ngói vẩy đã rêu phong, cổ kính. Phía trên nóc đình có đắp trang trí hình lưỡng long chầu nguyệt, phía trước đình đắp nổi bốn chữ “Quốc thịnh dân hưng”, thể hiện ước mong dân giàu nước mạnh của người xưa. Hai mái đầu đao cong cong hai bên khiến cho ngôi đình trở nên mềm mại, duyên dáng. Từ xa nhìn lại, đình Quan Lạn như chiếc thuyền nổi bật trên nền trời xanh thẳm, tô điểm cho cảnh sắc đất trời Quan Lạn.
Thủ từ Nguyễn Hữu Thân còn cho biết, đình Quan Lạn đầu tiên được xây dựng vào thời Hậu Lê (khoảng thế kỷ XVII) ở bến Cái Làng vốn là trung tâm thương cảng Vân Đồn. Sau nhiều thế kỷ sầm uất, đến thời nhà Nguyễn, việc thông thương đã đi sâu vào khu vực Kẻ Chợ, Phố Hiến ở đàng Ngoài và Hội An ở đàng Trong thì thương cảng Vân Đồn cũng mất địa vị quan trọng về mặt ngoại thương. Do đó, dân Cái Làng đã chuyển chỗ ở để hợp với nghề biển. Cũng vì lẽ đó, ngôi đình được chuyển về thôn Nam.
Sau khi ngôi đình chuyển về đo một thời gian, trong làng thường xảy ra nhiều chuyện chẳng lành, cư dân làm ăn không được thuận lợi. Nhận thấy vị trí như vậy chưa hợp phong thủy nên dân làng lại di chuyển đình về thôn Đoài như ngày nay và đặt tên mới là đình Quan Lạn. Trước đây, đình Quan Lạn được làm hoàn toàn bằng gỗ kể cả nền sàn đình. Có thể trong những lần di dời, sàn đình bằng gỗ đã được người xưa tháo bỏ. Hiện nay, những vết lỗ để ghép mộng ở quanh chân cột vẫn còn.
Các cụ cao niên trong xã Quan Lạn cho biết, vị trí đình hiện nay được xây dựng khá đắc địa với hướng nhìn ra biển. Phía trước là 3 ngọn núi, phía sau là 5 đỉnh núi tạo thành bức bình phong che chở cho cư dân làng biển. Từ đợt di chuyển lần hai, cuộc sống của nhân dân ổn định hơn, việc làm ăn cũng khá “thuận buồm xuôi gió”. Người ta cho rằng, đó là nhờ vào vị trí đắc địa "tiền tam sơn, hậu ngũ nhạc"của đình Quan Lạn. Điều này cho thấy, ngôi đình không chỉ là nơi sinh hoạt văn hóa, tâm linh cộng đồng, mà còn gắn bó rất mật thiết với sự biến đổi đời sống của cư dân trên xã đảo.
Năm 1990, đình làng Quan Lạn cùng với một số di tích tại Quan Lạn như nghè thờ Trần Khánh Dư, miếu Đức Ông, miếu Sao Ỏn và miếu Đồng Hồ (nơi thờ 3 người anh em địa phương là Phạm Công Chính, Phạm Thuần Dụng và Phạm Quý Công đã lãnh đạo nhân dân tham gia cuộc đánh đoàn thuyền lương của quân Nguyên Mông và hy sinh trên biển) đã được xếp hạng di tích lịch sử, nghệ thuật cấp quốc gia.
Trải mấy thế kỷ, với bao phen vật đổi sao dời, song đình Quan Lạn vẫn giữ được những giá trị kiến trúc, điêu khắc độc đáo, vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”, trường tồn giữa sóng gió biển khơi. Điều đó đã cho thấy, bàn tay khéo léo, tài hoa của những người thợ mộc xưa và sự kỳ công bảo vệ di sản cha ông của các thế hệ cư dân vùng biển đảo Quan Lạn. Đình Quan Lạn không chỉ là trung tâm văn hóa làng xã mà còn là nơi kết tinh tinh thần thượng võ chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo Đông Bắc của Tổ quốc.
Không chỉ là nơi lưu giữ những kiến trúc, điêu khắc độc đáo của cha ông, đình Quan Lạn còn là nơi dân làng tụ họp mỗi dịp tháng 6 âm lịch trong không khí náo nức của lễ hội đình Quan Lạn. Từ lâu, người dân xã đảo có câu ca: “Dù ai đi ngược về xuôi/ Tháng Sáu âm lịch chèo bơi thì về”. Lễ hội đình Quan Lạn đã trở thành hội làng truyền thống của ngư dân xã đảo Quan Lạn, thường diễn ra từ ngày 10 đến 20-6 (âm lịch). Trong đó, hội đua thuyền được dân làng và du khách thập phương mong chờ nhất diễn ra vào ngày 18-6 âm lịch. Lễ hội vừa là dịp kỷ niệm chiến thắng giặc Nguyên Mông năm 1288 của quân dân nhà Trần và chiến thắng của vị tướng Trần Khánh Dư đánh tan đội thuyền lương quân Nguyên Mông, vừa là ngày hội cầu cho trời yên biển lặng, lưới nặng cá đầy của ngư dân vùng biển đảo.
Thanh Thuận






