Biên phòng - Xã Kim Liên (huyện Nam Đàn, Nghệ An) nằm giữa một vùng đồng bằng rộng lớn. Nơi đây có núi Chung nhô lên như thần "Kim Qui phù đạo" tạo dựng một khí thiêng mang hồn sông, thế núi. Phía Bắc xã Kim Liên là các xã Nam Xuân, Nam Lĩnh, Nam Giang; phía Nam là Hồng Long, Nam Cát; phía Đông là xã Hưng Đạo và thành phố Vinh, còn phía Tây là thị trấn Nam Đàn. "Địa linh sinh nhân kiệt" hay "Nhân kiệt tạo địa linh", tôi đứng lặng nhìn ra bốn phương, tám hướng ở một làng quê mình đã đến nhiều lần mà vẫn không hiểu hết. Nhiều lần tìm trong sử sách và địa lý, tôi được biết, núi Chung cao gần 50m ở vị trí trung tâm xã. Làng Sen, Hoàng Trù, Mậu Tài, Nguyệt Quả, Tính Lý, Ngọc Đình, Vân Hội là 7 làng của xã Kim Liên đều nằm quanh chân núi. Núi Chung với thế chữ Vương, "Kim Qui phù đạo" nên đã nổi tiếng khắp đất nước, ở mọi thời đại.
![]() |
| Quang cảnh quần thể khu di tích Kim Liên ở Làng Sen. |
Đủ thấy bốn phương xung quanh núi Chung đều được các đấng quân vương, tướng lĩnh chọn làm bản doanh để báo cầu đất nước và những danh nhân, anh hùng hội tụ. Bởi thế mới có thơ: "Chung sơn tam đỉnh hình vương tự/ kế thế anh hùng vượng tử tôn" hay trong hát phường vải đã có lần tôi nghe được ở đâu đó: "Kim Liên có cánh sen vàng, chào chàng nho sỹ tới làng Kim Liên. Mừng người bước tới cửa tiên, bạch liên trắng bạch hồng liên đỏ hồng...". Để bây giờ ở Kim Liên còn những cánh đồng mang tên "sen" như đồng Sen cạn, đồng Sen sâu, bàu Sen, chợ Sen...
Theo đường cũ, lối xưa, tôi tìm về làng Hoàng Trù, quê ngoại Bác nhưng lại là nơi Bác cất tiếng khóc chào đời và lưu giữ cả tuổi thơ của Người. Nơi ấy có ngôi nhà của cụ Hoàng Đường và cụ bà Nguyễn Thị Kép thân sinh ra thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cụ Hoàng Thi Loan. Nơi đây cũng có ngôi nhà thờ họ Nguyễn Xuân và ngôi nhà của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Bác, quần thể chỉ rộng khoảng 7 sào Trung bộ, tương ứng với 3.500m2.
Đứng trong khoảng sân rộng trước ngôi nhà dưới cái nắng mùa hạ, trong hương cau mang mác để được nghe tiếng thuyết minh của cô gái xứ Nghệ, một giọng nói trầm ấm, cứ tự nhiên thấm sâu vào lòng người, như uống vào tôi ở không gian linh thiêng có tuổi thơ của Bác: "... Cụ Hoàng Đường sinh năm 1835, mất năm 1893, cụ là ông ngoại của Bác Hồ, làm nghề dạy học. Cụ bà Nguyễn Thị Kép làm ruộng và dệt vải, đây cũng là nghề mà cụ bà truyền cho con gái đầu lòng Hoàng Thị Loan".
Tết Nguyên đán Mậu Dần, năm 1878, cụ Hoàng Đường đi chúc Tết đã vô tình gặp một chú bé ngồi trên lưng trâu mê mải đọc sách. Dừng lại, cụ Hoàng Đường hỏi chuyện mới biết hoàn cảnh của cậu bé Nguyễn Sinh Sắc ở làng Kim Liên cùng xã với cụ. Cậu bé mồ côi cả cha lẫn mẹ từ năm 4 tuổi, ở với anh cùng cha, khác mẹ. Thương cảm trước hoàn cảnh của cậu bé hiếu học, cụ Hoàng Đường đã sang làng Kim Liên xin phép họ Nguyễn Sinh đưa cậu Nguyễn Sinh Sắc về nuôi và cho ăn học, năm ấy, Nguyễn Sinh Sắc tròn 15 tuổi. Với trí thông minh hơn người, lại hiếu học, được sự dìu dắt của cụ đồ Hoàng Đường càng ngày cậu bé họ Nguyễn Sinh càng nổi tiếng khắp vùng, được ông bà đồ Hoàng Đường yêu quí như con đẻ. Năm 1881, khi Nguyễn Sinh Sắc tròn 18 tuổi, gia đình cụ đồ đã thể hiện tình yêu thương nhất mực của mình bằng cách cho Nguyễn Sinh Sắc hứa hôn với con gái đầu lòng Hoàng Thị Loan và hai năm sau đó, năm 1883, hai người chính thức thành vợ, thành chồng.
Cũng trong ngôi nhà của cụ đồ Hoàng Đường, nơi chứng kiến sự miệt mài đèn sách của anh học trò nghèo Nguyễn Sinh Sắc, sự tần tảo thủy chung của bà Hoàng Thị Loan và 3 người con ra đời, trong đó có Nguyễn Sinh Cung. Năm Giáp Ngọ 1894, Nguyễn Sinh Sắc đỗ cử nhân trường Nghệ, đến năm 1895, ông "lều chõng" vào kinh đô Huế dự kỳ thi Hội, khoa Ất Mùi, song không đỗ, nên ông quyết tâm ở lại Huế để ôn luyện. Được sự đồng ý của cụ đồ Hoàng Đường và cũng là để lo cho chồng, bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu của Bác Hồ đã đưa các con vào Huế để chăm sóc chồng. Đây cũng là thời điểm gian truân vất vả nhất mà bà Hoàng Thị Loan phải gánh vác. Con nhỏ, chồng luyện thi, bà đã làm mọi việc để có tiền nuôi sống gia đình và chăm con. Khi sinh hạ người con thứ tư, sau vài ba tháng, bà đã qua đời vào tháng 2-1901 ở tuổi 33, lúc ấy cậu bé Cung mới tròn 11 tuổi.
Vợ mất, con thơ dại, chàng cử nhân xứ Nghệ rời kinh đô Huế về lại Hoàng Trù, Kim Liên sinh sống để các con có nơi nương tựa. Cũng chỉ sau ba tháng trở lại quê hương, Nguyễn Sinh Sắc đã gửi các con cho ông bà ngoại, quay lại kinh đô Huế dự kỳ thi Hội khoa Tân Sửu 1901. Trong khoa thi này, ông đã báo đáp được công dưỡng dục của ông bà đồ Hoàng Đường và nhất là sự tần tảo, thủy chung vượt qua mọi khổ ải của người vợ thảo hiền đã quá cố. Ông đã đậu Phó Bảng và được vua Thành Thái ban cho tấm hoành phi "Ân tứ ninh gia". Theo truyền thống khi đỗ đạt, Nguyễn Sinh Sắc phải về quê nội tức làng Kim Liên, là làng Sen bây giờ để làm lễ "Vinh quy bái tổ"...
Cứ đi, cứ ngắm cái thanh bình êm ả một làng quê, rồi sang ngôi nhà nhỏ của ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, bà Hoàng Thị Loan mà nhìn ngắm chiếc võng đay đã đứt dây, sờn mép đung đưa, ngắm cái khung cửi nhẵn bóng tay người, thấm đẫm mồ hôi của bà Phó bảng, mà ngày ấy bà đâu đã được chứng kiến ông trở thành Phó bảng. Ngôi nhà trên đất ngoại Hoàng Trù này đã gắn với tuổi thơ của Người, nơi Người đã nhận được tình yêu thương của gia đình, làng xóm, hiểu cái nhọc nhằn của người dân mất nước sau những lần "hầu nước và trộm nghe" những cuộc mạn đàm của cha. Để rồi qua năm tháng, cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã nhân những giá trị ấy thành một khát vọng lớn lao, muốn tận mắt nhìn thấy chủ nghĩa thực dân trên đất thực dân phía trời Tây, muốn nhìn thấy chủ nghĩa Mác-Lê nin trên đất Mác-Lê nin. Bác đã hành trình qua bốn biển, năm châu để tìm con đường cứu nước...
Vẫn không thỏa mãn với mình, mà thỏa mãn sao được, có lẽ cả đời sống ở nơi đây cũng có mấy ai thỏa mãn với mình khi được đằm vào hương đất, hoa trời nơi Bác. Từ Hoàng Trù, tôi ngược lên hướng Tây Bắc để tìm sang làng Sen, cũng là làng Kim Liên để được đặt chân trên mảnh đất nghĩa tình, ngắm ngôi nhà tình nghĩa mà người dân Kim Liên, bà con làng Sen dành cho ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc khi ông vinh quy bái tổ vào năm 1901. Ông Phó bảng dùng gian nhà giữa để thờ bà Hoàng Thị Loan và cũng là nơi ông tiếp khách hằng ngày và đọc sách. Đây cũng là nơi ông coi mình sẽ được gần gũi với người bạn đời đã quá cố, hết lòng vì sự nghiệp của ông và vì sự trưởng thành của những đứa con ông...
Một câu chuyện thật rạch ròi nhưng cũng đầy cảm động, lần đầu tiên sau nhiều năm đi tìm đường cứu nước và đã giành được độc lập, tự do cho nước nhà. Người đã dành hết thời gian cho Đảng, cho Nhà nước non trẻ, cho thành quả cách mạng, cho dân tộc để rồi mãi đến ngày 14-6-1957, tức năm Đinh Hợi, sau ngày chiến thắng Điện Biên Phủ hai năm, đất nước bước qua thời kỳ khôi phục kinh tế, văn hoá, hàn gắn vết thương chiến tranh, Người mới thu xếp thời gian về thăm quê lần đầu.
Trong chuyến thăm quê lần này, Bác về làng Kim Liên trước khi về thăm quê ngoại Hoàng Trù. Vẫn bộ quần áo ka ki bạc màu, vẫn đôi dép cao su đã mòn, Bác thoăn thoắt bước đến bên chiếc cổng tre, Người nhìn thấy tấm bảng viết "Nhà Bác Hồ", Bác quay lại bảo mọi người đi cùng và đông đảo nhân dân đến đón Bác: "Đây là nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc chứ có phải nhà Bác Hồ đâu?".
Rồi Người đứng tần ngần bên chiếc cổng tre mới được làm, nhìn bao quát hai ngôi nhà, ngắm kỹ mảnh sân với khu vườn. Khi nghe tiếng người cán bộ hướng dẫn mời Bác vào nhà, ngập ngừng một thoáng rồi Người thong thả đi dọc theo hàng rào vào đến tận cuối vườn, Người rẽ phải đi bên hàng hoa dâm bụt để vào sân. Người quay lại: "Các chú mở lối đi vừa rồi là sai, cổng nhà cụ Phó bảng ở hướng đông này chứ...".
Một câu nói của Người vừa là lời nhắc nhở, vừa là câu hỏi nhưng đầy tính chân thực, chỉnh chu trong công tác bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc.
4 năm sau, ngày 9-12-1961, Bác lại có dịp về thăm quê, nhưng lần này, Bác về quê ngoại Hoàng Trù trước. Bác bước từng bước chậm rãi, đưa tay vào từng cây cột, từng phên vách quanh nhà, những đồ vật đã đi vào tuổi thơ của Người. Đến trước cái rương gỗ cũ kỹ trong gian buồng thân mẫu của Bác là cụ Hoàng Thị Loan, Người đứng lại thật lâu, rồi Người rút khăn mùi xoa lau mắt.
Vẫn trong lần thăm quê ấy, khi về tới Kim Liên, một đồng chí lãnh đạo tỉnh trịnh trọng mời Bác vào nhà khách, Người quay lại bảo: "Tôi xa nhà, xa quê đã lâu, nay mới có dịp trở về, tôi phải về thăm nhà tôi trước đã. Nhà tiếp khách là để dành cho khách, tôi có phải là khách đâu...". Trưa hôm ấy, chính quyền mời Bác ăn cơm, nhưng Người từ chối, Bác bảo: Bác đã xa quê hơn 50 năm, bây giờ được về thăm quê, Bác muốn thăm hỏi và trò chuyện với thật nhiều người. Và trong lúc nói chuyện cùng nhân dân, Bác nói: "Người ta đi xa lâu ngày về quê thì mừng mừng, tủi tủi, còn tôi thì chỉ mừng chứ không tủi. Khi tôi ra đi nước nhà còn nô lệ, bây giờ về nước nhà đã được độc lập, tự do". Nói xong Bác đọc hai câu thơ: "Quê hương nghĩa nặng tình cao/ năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình".
Ngọt ngào xứ Nghệ là thế, nắng tháng 5 ở xứ Nghệ là thế. Nơi ấy có một vĩ nhân, một lãnh tụ vĩ đại, một nhà văn hoá lớn, một danh nhân văn hoá của nhân loại. Ánh sáng từ làng Sen, từ làng Hoàng Trù, một "bông sen vàng" mang hương nhụy thả vào không gian Việt, để chúng ta luôn nhớ lời dạy của người, đều là con Lạc, cháu Hồng, ẩn sâu trong hai tiếng "đồng bào" mà Người thường gọi.







