Biên phòng - Nhà sử học Lê Quý Đôn trong "Kiến văn tiểu lục" đã nói về Xín Mần như sau: "Đi thì bản Thuẫn, bản Gia/Về thì đèo Dục, cùng là đèo Thông". Câu thơ này có ý là đến Xín Mần thật gian nan, xa xôi cách trở, sông suối đèo dốc chia cắt, làm con người rất dễ nản lòng. Bởi vậy, những năm chưa xa, Xín Mần còn được mệnh danh là "Xứ Mù". Nghĩ đến Xín Mần là người ta ái ngại.
![]() |
Từ thị trấn Tân Quang (Bắc Quang) vào Hoàng Su Phì 64km, nhưng có đến 1.009 đoạn cua gấp (người cán bộ giao thông bảo với tôi như vậy); cổng trời, vực thẳm thật ghê gớm, người khỏe cũng ù tai, hoa mắt như say sóng, huống hồ người yếu... Đoạn từ Hoàng Su Phì vào Xín Mần gần 40km có khá hơn, mặt nhựa phẳng lì, cầu cống khá tốt, nhưng tốc độ xe vẫn không nhanh hơn được. Ấn tượng là đường dây cao thế 35KV từ Bắc Hà (Lào Cai) sang, giăng mắc trên những sườn đồi, sườn núi.
Dòng suối Đỏ phía sau, mà ai đó sáng tạo ra cái tên mới: "Dòng suối màu hoa đào" lúc ẩn, lúc hiện dưới rừng thông Mã Vĩ ngút ngàn. Bên trái dòng sông Chảy đã xanh trong trở lại, dưới ánh nắng đầu thu vàng óng như mật ong, bờ đá dựng thăm thẳm, lau lách trắng bạc nguyên sơ. Thi thoảng bên đường thác nước cao ngất đổ xuống ầm ào, trắng xóa, hơi lạnh từ ruột đá, từ bụi nước tỏa ra thật dễ chịu...
Tôi đã qua nhiều dòng sông trên đất nước mình; nhưng sông Chảy là con sông khác lạ. Khác lạ không phải vì con sông có nhiều nguồn lợi thủy sản, hoặc cảnh đẹp nên thơ quyến rũ du khách, lạ ở chỗ, con sông chảy ngược từ đất nước mình sang Trung Quốc. Thượng nguồn của nó từ suối Nậm Má - Cao Bồ (Vị Xuyên) ngược Nậm Ty (Hoàng Su Phì) đến cầu Cốc Pài (Xín Mần) dài 70km. Đoạn này có tên là sông Cốc. Từ cầu Cốc Pài, con sông chảy qua lòng núi, khe đá vào địa phận Trung Quốc 56km, dòng nước vòng xuống, đổ vào hồ Thác Bà (Yên Bái) cho đất nước nguồn năng lượng trắng dồi dào...
Khác lạ ở chỗ, địa hình Xín Mần đặt trong khu vực của khối núi thượng nguồn sông Chảy. Đây là khối núi Granit lớn nhất và cổ nhất Bắc bộ, nằm phía Tây thành phố Hà Giang, được cấu tạo cách đây trên 500 triệu năm. Khối núi rộng đến 2.500km2 quả là một kỳ quan thiên nhiên còn ẩn chứa bao điều bí mật. Xín Mần có độ cao từ 1.200 - 1.600m. Dãy Chiêu Lầu Thi (còn có tên Kiều Liên Ty - chín tầng mây) có đỉnh cao 2.402m; hẳn chỉ kém Phan Xi Phăng chút ít... Khí hậu ở đây được chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Mùa thu Xín Mần trời xanh trong đến độ viên mãn nồng nàn. Mùa thu, cái mùa mơ mộng của thi nhân, lòng còn chạnh nhớ thương thầm người xa. Mùa của trái mận Nàn Ma, sẵn sàng dâng hết phần ngon ngọt cho người, mùa của búp chè Chế, đậm chát khó quên. Ngọt ngào ngọn gió se lạnh, khiến cho ta nhớ bếp lửa giữa lưng đèo mờ sương, bát rượu ngô sóng sánh, ân tình bè bạn, đồng nghiệp...
Phố huyện tựa lưng vào dãy núi Nàn Ma cao ngất. Những tòa nhà cứ gối đồi, gối núi mà lên cao, nhiều kiểu dáng trông lạ mắt. Để tạo độ bền vững lâu dài cho những công trình ở đây, có lẽ không gì thay thế được xi măng, sắt thép và ý chí con người.
Tôi lang thang suốt buổi chiều phố huyện, từ khu chợ đến các ngõ ngách, nhà dân... Hàng hóa đủ kiểu được bày bán la liệt. Những quán ăn thơm phức gia vị, chủ, khách chân tình cởi mở. Tôi thấy cuộc sống không có sự khác biệt lắm với những vùng đô thị dưới xuôi.
Sáng hôm sau, từ trung tâm huyện, chúng tôi vượt 12km để lên xã Nàn Ma. Đến trụ sở UBND xã, chúng tôi theo con đường mòn ngược lên một quả đồi cao có rừng cây bao phủ, thành kính thắp hương trên phần mộ 12 nghệ sĩ của Đoàn Văn công Lao - Hà - Yên, Binh đoàn 148 bị thổ phỉ giết hại. Cái ngày đáng nhớ ấy là đêm 8-11-1952, được ca sĩ Quang Hưng mô tả chi tiết, cảm động về sự hy sinh bất khuất của các nghệ sĩ chúng ta trong bài viết "Trên đỉnh Tây Côn Lĩnh".
... Sau khi hoàn thành chương trình biểu diễn, phục vụ đồng bào các dân tộc Xín Mần vừa được giải phóng, các nghệ sĩ của ta đã nghỉ lại trong một ngôi nhà sàn của đồng bào bên đường để sớm mai tiếp tục hành quân. Thình lình nửa đêm, một toán thổ phỉ có vũ trang lén lút mò tới, bao vây ngôi nhà này. Tuy bị tập kích bất ngờ, vũ khí quá ít, các nghệ sĩ của ta vẫn bình tĩnh tổ chức đánh trả quyết liệt bằng tiểu liên và lựu đạn. Hết đạn, các đồng chí dùng báng súng quật vỡ đầu nhiều tên.
Cảm động hơn là hai vợ chồng nghệ sĩ Nguyễn Thị Hảo - Lê Văn Chương đã chiến đấu dũng cảm, ngã xuống một cách oanh liệt. Máu xương của các anh, các chị và đồng đội đã đổ xuống mảnh đất biên cương xa xôi này, cho màu xanh và tiếng hát bay xa...
Năm 2002, Huyện ủy và nhân dân Xín Mần đã đưa các anh, các chị về nghĩa trang của huyện. Một chùm hoa rừng thơm ngát, tôi thành kính đặt trước tượng đài ghi công. Ánh mắt tôi nhòe đi trong hương khói, trước những tuổi tên, đồng nghiệp chưa hề biết mặt, nhưng quá đỗi thân thiết. Các anh, các chị đã vĩnh viễn nằm trong lòng đất mẹ, nhưng tiếng hát thì còn mãi, nhắc nhở những người cầm bút chúng tôi về sự hy sinh lớn lao để giữ vững một vùng biên cương Tổ quốc...
Xín Mần là vùng đất dốc từ 36 - 45o. Thời tiết khắc nghiệt, mưa lớn kéo dài, mùa đông đến sớm, rét đậm, có mưa tuyết. Toàn huyện lượng mưa trung bình biến động từ 1.500 - 2.000mm/năm, đã làm trôi đi mỗi năm khoảng 73.200 tấn đất màu và phì nhiêu giảm sút nghiêm trọng.
Bí thư Huyện ủy Trương Minh Hòa cho biết: Ngày 1-4-1965, huyện Xín Mần được thành lập (tách ra từ huyện Hoàng Su Phì), đến nay đã gần 50 năm trưởng thành và phát triển. Với hơn 50.000 dân, đồng bào Xín Mần một lòng tin đi theo Đảng, với đức tính cần cù, sáng tạo, vùng đất Xín Mần xa xôi này đang từng ngày đổi thay. Trong cơ chế, chính sách thu hút nhân tài, các kỹ sư, bác sĩ, nhà giáo... nhộn nhịp lên với Xín Mần, cùng với nguồn cán bộ tại chỗ, được đào tạo ở các trường đại học đang trở về xây dựng quê hương. Tôi tin, một ngày không xa, Xín Mần sẽ có bước tiến vượt bậc...
Chiều xuống. Tôi lặng lẽ đứng ở ban công tầng 3, khách sạn Gia Long bề thế. Nhìn mặt trời đang tắt nắng trên đất bạn. Trong cái vẻ bí ẩn không cùng của điệp trùng núi non, trên bình độ cao vời vợi đã bảng lảng sương lạnh.
Lúc này, tôi có khoảnh khắc chìm đắm trong cảm nhận thiêng liêng, gần gũi của miền biên giới Tổ quốc. Những bản làng bình yên, nép mình dưới bóng cây vườn chi chít quả. Và tôi đã ăn bát mèn mén vàng thơm như nắng của bà mẹ người Mông tảo tần làm ra, hương vị đậm đà khó quên. Những câu thơ tôi viết về vùng đất ấy, dẫu chưa hay nhưng nó là cái tình thật: "Qua Cốc Pài chầm chậm/Lung linh bóng cầu vồng/Em gái Nùng dắt ngựa/Với người tình sang sông/Xín Mần mùa mận hậu/Người xa còn nhớ không..."








