Biên phòng - Trong nhiều thập kỷ qua, nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang luôn được coi là một trong những nhà nghiên cứu, soạn giả hàng đầu của sân khấu Việt Nam về nghệ thuật dân tộc, đặc biệt là nghệ thuật tuồng. Năm nay, mặc dù đã 99 tuổi, nhưng ông "vẫn còn nguyên một nhiệt huyết với sân khấu và nghệ thuật dân tộc, luôn khát vọng làm việc, đóng góp cho sự nghiệp phát triển văn hóa của đất nước" - như lời nhận xét của Nghệ sĩ Nhân dân (NSND) Lê Tiến Thọ, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam.
| |
| Giáo sư Vũ Khiêu chúc mừng soạn giả Mịch Quang (bên phải) nhân lễ thượng thọ 99 tuổi của ông. |
Sinh ra trên quê hương Bình Định, mảnh đất phát tích của vị anh hùng dân tộc Quang Trung và danh nhân văn hóa Đào Tấn, Mịch Quang sớm tiếp thu được những tinh hoa văn hóa truyền thống của quê hương. Sau nhiều năm học tập, lao động sáng tạo dưới ánh sáng văn hóa, văn nghệ của Đảng và Bác Hồ vĩ đại, nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang đã có nhiều đóng góp có giá trị trên hai lĩnh vực nghiên cứu và soạn giả sân khấu. Ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất năm 1999, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001 và đang được đề nghị trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2015.
Khi nghiên cứu những tác phẩm của Mịch Quang, GS-TS Trần Văn Khê nhận xét: "Trong những nhà nghiên cứu về nghệ thuật tuồng, niềm hãnh diện lớn của truyền thống nghệ thuật Việt Nam, thì anh Mịch Quang có lẽ là một người nghiên cứu toàn diện và sâu sắc hơn cả, chẳng những về lịch sử tuồng mà cả phương pháp nghệ thuật tuồng, kỹ thuật biểu diễn tuồng, cách viết tuồng, với nhiều phát hiện, tổng kết được nhiều người thừa nhận như "hiện thực tả ý", "sân khấu tổng thể". Anh không những là nhà lý thuyết, là người thực hành, nghiên cứu sâu rộng mà còn là người viết tuồng cũng rất nhiều và hay, đối với tôi, anh là một người văn võ kiêm toàn trong giới nghệ thuật vậy". Lời nhận xét của GS-TS Trần Văn Khê phần nào cho thấy tài năng và cống hiến của Mịch Quang đối với nghệ thuật tuồng của dân tộc.
Mịch Quang, tên thật là Nguyễn Thế Khoán, sinh ngày 1-5-1917, tại làng Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Cậu bé Khoán sớm được tiếp xúc với nghệ thuật tuồng (hát bội) qua các buổi xem đội hát bội của làng biểu diễn. Niềm say mê nghệ thuật của Khoán còn được nuôi dưỡng bởi những lời giảng giải về cái hay, cái đẹp của nghệ thuật tuồng của người cha ruột, vốn là cộng tác viên báo "Tiếng dân" của cụ Huỳnh Thúc Kháng với bút danh là Diệu Liên cư sĩ. Mê tuồng nhưng cậu bé Khoán lại theo học và lập nghiệp bằng nghề thư ký bưu điện.
Từng mặc cảm, tự ti về khả năng nghệ thuật, một sự tình cờ kéo chàng trai Khoán gắn bó hơn với nghệ thuật sân khấu khi cùng Huỳnh Văn Cát đứng ra thành lập Đội cải lương tài tử Ninh Hòa hoạt động theo hướng của Việt Minh. Năng khiếu nghệ thuật của Nguyễn Thế Khoán bộc lộ và phát triển chính từ Đội cải lương Ninh Hòa. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Thế Khoán được mời làm Trưởng ban văn hóa Trung đoàn 94, đóng quân ở Bình Định. Ông nhận lời mời này và chấm dứt quãng đời làm "thầy thông dây thép" như ông chia sẻ. Một thời gian sau, ông bị bệnh nên phục viên. Khi lành bệnh, ông tham gia hoạt động trở lại và là Ủy viên Thường vụ Phân hội Văn nghệ Bình Định, rồi tập kết ra Bắc năm 1954 làm biên tập viên văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam. Đến năm 1959, ông được mời về Ban Nghiên cứu tuồng. Chính nơi đây, Mịch Quang đã học tập và bắt đầu viết nhiều công trình nghiên cứu về tuồng có giá trị.
Dấu ấn quan trọng trong cuộc đời lao động, sáng tạo của Mịch Quang là lần được gặp Bác Hồ. "Tôi không nhớ chắc năm nào, sớm nhất là năm 1960, trong dịp tôi được phân công trực Tết, tình cờ Bác Hồ đến thăm Khu văn công. Khi vào Ban Nghiên cứu, Bác hỏi: Các cháu nghiên cứu thế nào? Tôi thưa: Thưa Bác khó lắm ạ? Bác bảo: "Đừng để những tiêu chuẩn này nọ của nghệ thuật phương Tây trói buộc khiến ta không thấy hết cái hay cái đẹp của nghệ thuật dân tộc". Từ đấy, tôi luôn nhớ mãi lời dạy của Bác, không để những tiêu chuẩn nghệ thuật phương Tây ràng buộc, phát huy tư tưởng độc lập tự chủ trong nghiên cứu. Cộng với những tri thức đã có, tôi trực tiếp tìm hiểu thêm qua các lão nghệ nhân và đến năm 1963, tôi ra mắt công trình đầu tiên "Bước đầu tìm hiểu nghệ thuật tuồng" - Mịch Quang kể lại trong hồi ký.
Từ năm 1963, ông tiếp tục viết nhiều công trình nghiên cứu về nghệ thuật tuồng. Ông miệt mài làm việc, đặt những viên gạch đầu tiên và đã đạt được những thành tựu quan trọng xây dựng sân khấu học, nghệ thuật học truyền thống. Ông cho ra mắt những công trình nghiên cứu có giá trị như "Tìm hiểu nghệ thuật tuồng", "Đặc trưng nghệ thuật tuồng", "Âm nhạc sân khấu kịch hát dân tộc", "Chương trình và nghệ thuật truyền thống - khơi nguồn mỹ học dân tộc"... Ông khẳng định: "Muốn phát triển nghệ thuật dân tộc phải đứng vững trên cái nền truyền thống và phải biết tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nghệ thuật của thế giới để làm giàu cho nghệ thuật dân tộc Việt Nam". Lời nói của ông như kim chỉ nam cho ông và các thế hệ học trò trong công cuộc tôn vinh, phát triển nghệ thuật dân tộc.
Không chỉ là nhà nghiên cứu, Mịch Quang còn là một tác giả xuất sắc, đầy tính sáng tạo. Ông có nhiều đóng góp quý báu cho sân khấu cách mạng Việt Nam. Từ vở tuồng đầu tiên "Đường về Lam Sơn" năm 1951 đến vở "Bà mẹ làng Sen" năm 2004, Mịch Quang đã có hơn 20 kịch bản về các đề tài lịch sử, dã sử, hiện đại được các đơn vị sân khấu cả nước dàn dựng biểu diễn và được đánh giá cao tại các kỳ liên hoan nghệ thuật. NSND Lê Thế Thọ cho rằng: "Thực tiễn nghiên cứu sáng tác và biểu diễn nghệ thuật dân tộc hiện nay đang đặt ra những bức xúc trong việc nghiên cứu, bảo tồn, phát huy vốn nghệ thuật dân tộc, trong tình hình đó, những công trình nghiên cứu của soạn giả Mịch Quang càng thêm ý nghĩa và giữ nguyên giá trị thời sự bổ ích cho những người đang hoạt động nghệ thuật sân khấu dân tộc hôm nay".
| Theo GS-TS Trần Văn Khê, điều đáng quý ở con người Mịch Quang là tinh thần quý trọng vốn cổ của dân tộc, cách nhìn nhận và đưa ra quốc tế. Trong một bài viết về Mịch Quang, GS-TS Trần Văn Khê viết: "Có lẽ một người nghiên cứu trong nước mà có được phong cách khoa học của anh Mịch Quang là lạ lùng lắm. Trước hết là bởi thái độ quý trọng cổ mà không "nệ cổ", mở rộng tầm hiểu biết ra bên ngoài mà không "vọng ngoại". Còn là bởi cách nhìn của anh là cách nhìn của quốc tế, cách nhìn toàn diện. Không chỉ nhìn âm nhạc dưới phương cách âm nhạc không mà nhìn âm nhạc trong bối cảnh văn hóa, bối cảnh xã hội với quan điểm của sinh học và khoa học hiện đại. Điều tôi chịu nhất ở anh Mịch Quang là quan điểm "không thể lấy ống kính của nhạc phương Tây mà nhìn âm nhạc Việt Nam". |






