Biên phòng - Là một trong những nhà văn đã đồng hành cùng cuộc chiến đấu của dân tộc ngay từ những ngày đầu đánh Mỹ, kinh nghiệm sống của nhà văn Nam Hà đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam một số lượng tác phẩm văn học khổng lồ, gồm cả tiểu thuyết, thơ, truyện ngắn và bút ký... Những cuốn tiểu thuyết sử thi liên hoàn và hàng trăm tập bút ký của ông tái hiện lại đầy đủ diễn biến lịch sử của hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.
![]() |
| Nhà văn Nam Hà phát biểu trong một buổi ra mắt sách của đồng nghiệp. Ảnh: Thanh Thuận |
Ngôi nhà của nhà văn Nam Hà nằm khuất trong góc "phố nhà binh" Lý Nam Đế (Hà Nội). Những tưởng, người lính già đã trải qua các cuộc chiến tranh, vượt qua bao thăng trầm lịch sử của đất nước sẽ là một người nghiêm nghị đến khó gần. Ai ngờ, ông lại là người hiền lành và lặng lẽ. Thời gian đã phủ lên đôi mắt ông màu của sự ưu tư, thâm trầm, kín đáo. Mỗi khi ngẫm về quá khứ, trong đôi mắt ấy lại ánh lên những tia ấm áp. Được trò chuyện cởi mở cùng ông khiến tôi - thế hệ sau cuộc chiến tranh càng thêm yêu đất nước mình, yêu những con người bình thường mà vĩ đại.
Nhà văn Nam Hà nguyên là Phó Trưởng ban Văn học quốc phòng-an ninh, nguyên Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Quân đội. Trong quá trình công tác của mình, ông đã từng tham gia nhiều trận đánh lớn nhỏ trên chiến trường Liên khu III, Thượng Lào, Bình Trị Thiên, Nam Trung Bộ và miền Đông Nam bộ. Sinh ra trên mảnh đất Xô Viết Nghệ Tĩnh anh hùng, lớn lên với câu hò ví dặm, mảnh đất quê hương Nghệ An đã hun đúc tâm hồn người chiến sĩ - thi sĩ đi đến tận cùng cảm xúc, viết lên những vần thơ bất hủ.
Bài thơ "Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi, Việt Nam ơi!" được sáng tác trong hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc chiến tranh không cân sức. Nhưng vượt lên đau thương, bừng lên khí thế cảm xúc, bài thơ được các chiến sĩ tù Côn Đảo ngày ấy hát vang bất chấp những đòn roi tra tấn của kẻ thù. Bài thơ đã vượt qua không gian, thời gian đến với mọi tầng lớp thanh niên thời bấy giờ.
Nhà văn Nam Hà bùi ngùi kể lại: Năm 1964, trên đường băng qua Trường Sơn, cùng đi trong đoàn chúng tôi toàn thanh niên chưa vợ, trong không khí hừng hực khí thế ấy, tôi đã cho ra đời bài thơ này, bài thơ thường xuyên được ngâm trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Có người còn cho rằng, đó là tuyên ngôn của lớp thế hệ ngày ấy. Năm 1973, khi Mỹ trao trả tù binh, trong đó có những chiến sĩ cách mạng kiên trung như Nguyễn Thị Thắng, Lê Quang Vịnh cùng với một số thanh niên bị bắt. Khi Ban tổ chức giới thiệu tôi với mọi người, thật bất ngờ, tất cả đều chạy lại ôm chầm lấy tôi.
Thế mới biết sức mạnh của thi ca làm rung động đến từng tế bào, mạch máu của cơ thể con người. Những bài thơ thời chống Mỹ do ông sáng tác trào dâng những dòng cảm xúc bất tử trong trái tim mỗi người dân Việt Nam. Có những câu thơ đến bây giờ đọc lên, chúng ta vẫn thấy tràn đầy niềm tự hào xúc động: "Đất nước của những người con gái con trai/ Đẹp như hoa hồng/ Cứng hơn sắt thép/ Khi chia tay không hề rơi nước mắt/ Nước mắt để dành cho ngày gặp mặt..." (Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi, Việt Nam ơi!)
Ấy vậy mà độc giả lại quen gọi ông là nhà văn. Bởi một lẽ, số lượng tiểu thuyết, truyện ngắn cũng như bút ký của ông chiếm số luợng lớn trong cuộc đời sáng tác của ông. Tác phẩm của ông là những cuốn tư liệu vô cùng quý giá về hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta. Ba bộ tiểu thuyết sử thi liên hoàn: "Ngày rất dài" (2 tập) (viết về thời kỳ "Chiến tranh cục bộ"), "Trong vùng tam giác sắt" (2 tập) (viết về "Việt Nam hóa chiến tranh" - tác phẩm được tặng thưởng của Hội Nhà văn năm thứ 5), "Đất miền Đông" (viết về giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh) như một cuốn phim tư liệu lịch sử, tái hiện toàn bộ hình ảnh của hai cuộc chiến tranh tàn khốc.
Để viết được những trang văn hết sức sinh động, chân thực ấy, ông đã lao vào cuộc chiến, cùng với anh em chiến sĩ trải qua những tháng ngày vất vả gian lao nhưng đầy hào hùng. Nhân vật trong tác phẩm của ông đều là những nhân vật có nguyên mẫu ngoài đời. Họ là lớp người dám hy sinh vì Tổ quốc, đã tạo nên những sắc màu lung linh, huyền ảo của lịch sử chiến tranh Việt Nam.
Khi tôi thắc mắc: "Để dựng được cuốn tiểu thuyết có tới 300 đến 400 nhân vật, tác giả phải sống trong 300 đến 400 đời sống khác nhau, làm thế nào để các nhân vật không giống nhau?". Ông tâm sự: "Cuộc trò chuyện với anh em là vốn sống, là nguồn tư liệu quý giá. Để dựng lên những nhân vật điển hình, tôi gặp hầu hết các loại người trong chiến tranh, tôi chuyện trò với họ theo cách của người viết văn. Vừa quan sát, vừa gợi chuyện. Tôi xác định, người ngồi trước mặt tôi sẽ trở thành nhân vật của tôi và tôi tìm hiểu cái chiều sâu, nội tâm của họ".
Trong tiểu thuyết của ông có quá nửa nhân vật là địch, cũng là những nhân vật có nguyên mẫu. Để có vốn tư liệu phong phú, ông tìm đọc tài liệu của đối phương. Khi chiến tranh kết thúc, ông bổ sung thêm tài liệu bằng cách vào văn phòng Bộ Quốc phòng ngụy, vào Dinh Tổng thống cũ để quan sát, chiêm nghiệm. Ông gặp trực diện các nhân vật từng là tướng tá ngụy để hỏi chuyện. Có nhiều lính Mỹ khi không còn tham gia chiến tranh nữa, thường có thói quen viết hồi ký, ông tìm đọc những cuốn hồi ký ấy, tìm ra "cái tôi" của họ, tìm ra những chi tiết "đắt". Nhờ vậy, mà nhân vật ngụy của ông hiện lên trên trang sách hết sức sống động.
| Nhà văn Nam Hà tên thật là Nguyễn Anh Công, sinh năm 1935, tại Đô Lương, Nghệ An. Ông là người có số lượng tiểu thuyết sử thi đầy đặn với liên bộ tiểu thuyết về 10 năm chiến tranh với hơn 4.000 trang: "Ngày rất dài", "Trong vùng tam giác sắt" và "Đất miền Đông". Cả hai bộ tiểu thuyết "Trong vùng Tam giác sắt", "Đất miền Đông", dày 3.200 trang, đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. Bộ tiểu thuyết "Ngày rất dài" được tặng Giải thưởng của Bộ Quốc phòng. |
Trong đó, có cả những bi kịch, những mâu thuẫn của một trí thức sau chiến tranh, khi mang trong mình chất độc da cam... Ông tâm sự, thông qua cuốn sách, ông muốn nhìn lại con người cuối thế kỷ XX, những vấn đề của nước ta từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, phân tích cái được, cái chưa được, cái dở, cái hay, cái đúng, cái sai của thời đại mới thông qua các nhân vật.
Ông lấy vợ muộn, 42 tuổi mới được làm chú rể. Cô dâu ngày ấy còn rất trẻ, là một cô sinh viên mới ra trường. Giờ đây, ông đã ngoài 80 tuổi, các con ông đều đã trưởng thành. Hằng ngày, ông vẫn chăm chỉ làm việc sáng tạo như quên cả cái tuổi bát thập của mình.
Nhà văn Nam Hà vẫn luôn đau đáu: "Tổ quốc là vĩnh cửu, đề tài Tổ quốc là mãi mãi với các nhà văn. Cảm hứng về Tổ quốc không bao giờ cũ. Nó luôn mới! Các nhà văn, nhà thơ phải viết nhiều về đề tài này để góp phần bảo vệ biên giới, bảo vệ biển trời của Tổ quốc. Bỏ quên Tổ quốc là nhà văn có tội với nhân dân, có lỗi với lịch sử".







