Biên phòng - Trong xã hội Cơ Tu truyền thống, làng là một tổ chức cơ bản và duy nhất có quyền sở hữu và quản lý đối với tài nguyên rừng cộng đồng thông qua luật tục. Gắn liền với hình thức sở hữu và quản lý này là loại hình rừng tâm linh mang nhiều giá trị vật chất lẫn tinh thần. Thông qua những câu chuyện về rừng tâm linh của người Cơ Tu ở tỉnh Thừa Thiên Huế, chúng tôi muốn khẳng định những giá trị tích cực của rừng tâm linh truyền thống và xem đó như là một giải pháp hữu hiệu để bảo vệ rừng hiện nay.
![]() |
| Rừng ngày càng bị tàn phá. |
Trong quá trình thực tế tại địa bàn huyện Nam Đông và A Lưới, chúng tôi đã tiếp cận một số khu rừng thiêng, hiện tượng thiêng của người Cơ Tu và được nghe nhiều câu chuyện rất kỳ bí về các khu rừng tâm linh. Cùng đi với chúng tôi có anh A Ting Mường, ở thôn 4, xã Thượng Long, huyện Nam Đông, một trong những người thợ có tay nghề về điêu khắc tượng nhà mồ. Già làng Quanh Nam, thôn Aprung, xã Thượng Long kể: "Trong rừng La Vân có cây leo kêu giống tiếng con heo rừng. Ai đi săn đến gần đó thì con mắt sẽ nhìn đâu cũng thấy "con heo rừng" nên lấy dao giết, mang về nhà không thấy con heo rừng đâu, chỉ thấy mấy cây leo thôi. Ai mà chặt cây leo thì đều phải trả nợ máu. Nó sẽ đi đòi lại máu của người đã chặt cây".
Thực tế, rừng tâm linh đã hiện hữu và tồn tại trong lịch sử tộc người Cơ Tu từ bao đời nay. Ở đó, rừng thiêng được xem là nơi trú ngụ của các giàng và được biểu hiện thông qua các sự vật xung quanh (khe suối thiêng, cây kluru/klat, cây dây, cây leo, chim Tring...). Sự tồn tại của rừng tâm linh có ý nghĩa đối với người Cơ Tu ở cả khía cạnh nhân sinh và tín ngưỡng. Đây là những đám rừng nguyên sinh tự nhiên cuối cùng còn sót lại, một dạng tài nguyên của cộng đồng làng.
Đây còn là "không gian xã hội" đặc biệt, là một dạng thức tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa tâm linh. Ở đó, tính chất tâm linh được phản ảnh qua sự ngưỡng vọng, sùng kính của con người vào các thế lực siêu nhiên, các vị giàng (rừng thiêng), hay sự sợ hãi vào ma quỷ, ác thần (rừng ma), dẫn đến sự "thiêng hóa" vạn vật (vạn vật hữu linh). Vì vậy, trong ý thức và hành động của người Cơ Tu đối với rừng tâm linh luôn thể hiện lối ứng xử có "văn hóa", có "đạo đức", có "tình".
Đối với người Cơ Tu, rừng được quản lý thông qua luật tục và hệ thống niềm tin được thiêng hóa. Các hình thức xử phạt liên quan đến việc vi phạm những quy định luật tục thường rất nặng nề. Cũng cần phải nói thêm rằng, luật tục Cơ Tu chứa đựng những nội dung giáo dục của cộng đồng làng như cảnh cáo, nhắc nhở đối với các vụ vi phạm như xích mích, tranh chấp trong gia đình, cá nhân... và cao hơn là bồi thường, phạt đền, phạt nạp lễ vật cho làng để cúng thần linh xin xóa tội đối với những tội, như vi phạm phong tục, trộm cắp, phạm tội nhiều lần. Nếu kẻ phạm tội không có khả năng đền trả, nộp phạt, gia đình và dòng họ phải nộp phạt thay.
Đó cũng là yếu tố tăng cường sự giáo dục cộng đồng với các thành viên và cũng thể hiện tính cộng đồng trong các hình thức chế tài của luật tục. Ưu điểm của luật tục là sử dụng yếu tố thiêng hóa, thần linh để tạo nên sức mạnh cưỡng chế đối với người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm. Chính yếu tố thiêng hóa đó đã giúp cho luật tục có sức mạnh chế tài và tồn tại bền vững trong cộng đồng người Cơ Tu.
Rừng tâm linh của người Cơ Tu còn được quản lý thông qua ý thức tự giác của mỗi thành viên trong cộng đồng. Trong suy nghĩ và hành động liên quan đến rừng tâm linh, người Cơ Tu đều rất thận trọng với thái độ thành kính, tôn sùng vì nếu không thì việc bị giàng, cộng đồng làng xử phạt là điều không tránh khỏi. Nhưng nếu vi phạm, họ sẽ trở nên ân hận, day dứt trong suốt cuộc đời còn lại của mình và cũng không dám ra khỏi nhà vì sợ dân làng ruồng bỏ, hắt hủi.
Quản lý Nhà nước đối với rừng hiện nay có nhiều cách đã làm thay đổi cả nhận thức, thái độ và cách ứng xử của người Cơ Tu với rừng. Giờ đây, họ cho rằng, đất đai, rừng và các tài nguyên rừng đều thuộc quyền sở hữu và quản lý của Nhà nước, không còn là tài sản của làng nữa. Rừng của Nhà nước thì Nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ, không phải việc của dân làng. Đó cũng là tâm lý chung của nhiều tộc người ở miền núi trong bối cảnh hiện nay. Và từ những người bảo vệ rừng, ứng xử có "đạo đức" với rừng, thì giờ đây, thậm chí họ còn bị xem là "lâm tặc" bởi rừng không phải của đồng bào, của làng nên họ không bảo vệ; không có tư liệu, không gian sản xuất nên phải phá rừng!
Một thực tế khác đang diễn ra hiện nay trong vấn đề giao đất, giao rừng là Nhà nước chưa quản lý một cách chặt chẽ, hiệu quả các chủ thể trực tiếp tác động đến tài nguyên rừng. Vì thế, dẫn đến tình trạng sau khi Nhà nước giao đất, giao rừng cho đồng bào thì bà con lại đem đi bán, thậm chí khai thác tận diệt, phá rừng, phạm phải những khu rừng cấm - rừng nguyên sinh. Thực trạng trên đặt ra vấn đề là phải nâng cao quyền và vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng.
Hiện nay, Nhà nước đang bước đầu thực hiện chính sách quản lý trao quyền cho cộng đồng (nhóm hộ, nhóm sở thích, cộng đồng dân cư thôn) và từng bước cải thiện vai trò pháp lý của đối tượng là cộng đồng. Tuy vậy, địa vị pháp lý, đặc biệt là cộng đồng dân cư thôn chưa rõ ràng, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý tài nguyên rừng. Bởi, khi có địa vị pháp lý, cộng đồng dân cư thôn sẽ phát huy tốt vai trò của tập quán, truyền thống vốn có của họ.
Đồng thời, nên đánh giá lại và có những chính sách nhằm phát huy thiết chế làng miền núi trong cộng đồng quản lý rừng, trong đó nhấn mạnh vai trò quản lý của cộng đồng làng, phát huy cơ chế của luật tục trong quản lý, bảo vệ rừng hiện nay.
Bên cạnh đó, việc giao rừng, nên ưu tiên giao cho những cộng đồng sống gần rừng, đồng nhất về thành phần dân tộc (sẽ tạo sự đồng thuận trong quản lý dựa trên các tập quán) và thực sự muốn nhận rừng; đồng thời hỗ trợ cộng đồng sau khi giao rừng. Ngoài ra, cần vận dụng mô hình "thần linh pháp quyền", kết hợp hài hòa giữa các chế tài pháp luật và tính thiêng của các luật tục, khơi gợi những giá trị của tập quán truyền thống, sử dụng luật tục trong quản lý rừng, vận dụng "đạo đức rừng", "văn hóa rừng" vào quản lý tài nguyên rừng hiện nay.







