Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 08:31 GMT+7

Người Cống bên dòng Đà Giang

Biên phòng - Nơi đầu nguồn biên giới, dòng sông Đà huyền thoại bắt nước từ bao ghềnh xa, khe sâu rồi ồn ào, mạnh mẽ trở thành dòng sông thiêng, dòng sông mẹ của nhiều dân tộc anh em sống trong lưu vực của sông. Đi và cảm nhận, chúng tôi hiểu rằng, trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, nhiều chính sách, chương trình, dự án đã được ban hành đã tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi và đồng bào dân tộc, thay đổi diện mạo của bao bản làng vùng dân tộc thiểu số, trong đó có cộng đồng dân tộc Cống ở vùng núi rừng Tây Bắc.

8shb_21-1.jpg
Điệu dân vũ của những sơn nữ người Cống làm say đắm lòng người.

Thật tình cờ, trên con thuyền độc mộc chèo ngang sông Đà, chúng tôi thấy bên bờ Tây thấp thoáng bóng dáng những người con gái đang thướt tha lượn múa. Không một nhịp trống, không một tiếng đàn, những sơn nữ ấy vẫn múa say sưa như hòa theo nhịp điệu tâm hồn tận sâu thẳm con tim… Người chèo đò nói với chúng tôi rằng, đó là người của bản Khao, xã Nậm Khao, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu - nơi cư trú của người dân tộc Cống.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Cống ở Việt Nam có 2.029 người, cư trú tập trung tại các tỉnh: Lai Châu (1.134 người, chiếm 55,9%) và Điện Biên (871 người, chiếm 42,9%). Tại Lai Châu, bà con sống chủ yếu ở vùng bình địa phía Tây sông Đà và gần với các thị trấn, thị tứ nên điều kiện sống tương đối ổn định.

Riêng tại Điện Biên thì cộng đồng này lại là chủ nhân của những bản vùng sâu, đặc biệt khó khăn dọc tuyến biên giới Việt - Lào, nằm cách xa trung tâm huyện. Địa hình chủ yếu là đồi núi cao, chia cắt mạnh, giao thông cách trở, đi lại hết sức khó khăn, nhất là về mùa mưa lũ, có thời điểm gần như cách biệt với các vùng xung quanh.

Với tỷ lệ đói nghèo chiếm 64,6% tổng dân số, có thể thấy, chất lượng cuộc sống và chất lượng dân số thấp đang đẩy dân tộc này đứng trước nhiều nguy cơ, nhất là nguồn nhân lực không đảm bảo cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Bản Khao, nơi sinh sống của 71 hộ với 364 nhân khẩu người Cống, điều dễ nhận thấy là, chòm bản này tương đối khang trang, ngăn nắp. Tự bao đời, người Cống gắn liền cuộc đời với mái nhà sàn. Không vững chãi như nhà sàn Mường, không thanh thoát như nhà sàn Thái; nhà sàn của người Cống đơn sơ như chính đời sống của họ.

Mỗi ngôi nhà chỉ có một cửa chính ra vào và một cửa sổ trổ ngay gian giữa. Vách thưng bằng phên liếp hoặc gỗ tạp. Kết cấu toàn bộ ngôi nhà đều bằng gỗ, mây, tre, nứa, lá cọ… và được xây dựng theo mô thức nhà bốn mái. Ở đây, các ngôi nhà đều được rào chắn cẩn thận nhưng hầu như không theo một quy hoạch cụ thể nào. Trưởng bản Khao cho biết, với người Cống, hướng nhà phải hợp với gia chủ. Nếu không, thì nhà cũng phải xoay theo hướng nhìn ra sông suối hay thung lũng.

Sự đơn sơ của những ngày xưa cũ thể hiện thật rõ nét trong ngôi nhà của người Cống hiện tại. Hầu hết những vật gia dụng thiết yếu đều là các sản phẩm thủ công làm từ các nguyên vật liệu tự nhiên cộng với sự khéo léo của đôi tay cùng kinh nghiệm của cha ông để lại. Nó đơn giản như chính kết cấu từ gia đình cho đến cộng đồng của người Cống. Bởi cho đến thời gian gần đây, người Cống còn chưa có sự phân hóa giai cấp và gần như còn sống trong một xã hội thị tộc cổ truyền với sự liên kết trong dòng họ.

Người Cống dù dân số ít, nhưng có tới 13 dòng họ. Mỗi dòng họ có người đứng đầu với chức năng trưởng họ, chủ trì các công việc liên quan tới đời sống tinh thần. Đặc biệt là họ Lý. Đây là dòng họ duy nhất được làm chủ lễ "thủ tỷ" cúng rừng cấm vào tháng 3 hàng năm cho người Cống. Được sự cho phép của gia chủ, chúng tôi được tham quan bàn thờ của họ người Lò ở nhà ông Lò Văn Sành. Bàn thờ được đặt trong buồng ngủ gia chủ. Theo phong tục người Cống, mỗi họ khác nhau sẽ đặt bàn thờ ở các vị trí khác nhau trong nhà.

Bản Khao yên bình như cô gái lặng lẽ gìn giữ những mạch ngầm văn hóa của một dân tộc sống hồn nhiên bên con sông lừng danh thác lũ. Bên ngoài mỗi ngôi nhà, hễ có treo một tấm váy đen là báo hiệu chủ nhà đã đi vắng. Song song đó, các ta leo mắt cáo cũng báo hiệu nhà có trẻ sơ sinh và nhà đang kiêng khách để mong trẻ em được mạnh khỏe, hay ăn chóng lớn.

Có thể nói, dưới những mái lá đơn ở bản Khao này, bản sắc văn hóa với những luật tục vẫn được cả cộng đồng duy trì và tôn trọng. Bằng mạch ngầm giao kết ấy, những người Cống sống giữa thiên nhiên đầy bất trắc như dòng sông Đà ngoài kia, mới thấy mình vững vàng hơn với mối dây liên kết vô hình mà vô cùng bền chặt. Và nền tảng của một dân tộc cũng bắt đầu hình thành từ đó.

Không được khởi sắc sau những chính sách đầu tư của Nhà nước như những người anh em đồng tộc ở Lai Châu, người Cống ở Điện Biên gặp nhiều khó khăn hơn. Tình trạng thiếu đói, chậm phát triển có thể nhận thấy rất rõ ràng tại các bản Cống như Nậm Kè 1, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé; bản Púng Bon, bản Huổi Moi, xã Pa Thơm, huyện Điện Biên và bản Lả Chà, xã Pa Tần, huyện Nậm Pồ. Tuy sống cùng cộng đồng các dân tộc khác, nhưng do nhiều nguyên nhân cả chủ quan, khách quan nên nguy cơ tụt hậu về kinh tế, suy thoái giống nòi, mai một về văn hóa, phong tục tập quán và ngôn ngữ đang ngày càng đáng báo động.

Dẫn chúng tôi đi một vòng quanh bản, trưởng bản Nậm Kè Lò Văn Thắng cho biết, đây là nơi có 52 hộ đồng bào Cống sinh sống. Cả bản có khoảng 33ha lúa nước nhưng lúc nào cũng trong tình trạng khô hạn do hệ thống kênh mương dẫn nước, từ khe Huổi Thanh nhiều năm nay đã bị hư hỏng chưa có kinh phí sửa chữa.

Thiếu đất sản xuất, ruộng nương manh mún cộng với việc thiếu nước nên mỗi năm, đồng bào Cống ở Nậm Kè chỉ làm lúa một vụ đảm bảo được lương thực trong 5 tháng, thời gian còn lại trông chờ vào trợ cấp hoặc sản vật từ rừng. Thu nhập bình quân ước chỉ đạt 100.000 đồng/người/tháng. Chị Lò Thị Hơn, người dân Nậm Kè 1, cho biết: "Nhà có 8 khẩu, nhưng chỉ có vài sào lúa nước bậc thang, mỗi năm thu được chừng 5, 6 tạ lúa. Có năm mất mùa phải lấy lúa giống để ăn".

Ở các bản còn lại, thực trạng cũng không mấy khả quan khi người dân đang phải đối mặt với rất nhiều cái khó như không có đường vào bản, không điện lưới, nước sạch, không sóng phát thanh - truyền hình và đương nhiên là cả sóng… điện thoại. Thậm chí ở Huổi Moi còn không có chi bộ Đảng. Tình trạng trai lớn không lấy được vợ dân tộc khác, gái lớn chẳng lấy chồng người ngoài bản nên đành loanh quanh tìm đến với nhau, đẻ ra những đứa con còi cọc, ốm yếu…

Một cái khó khác không thể không kể đến là người Cống hầu như không biết nói tiếng Việt nên càng hạn chế trong việc giao tiếp cũng như tiếp cận các chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế, văn hóa của địa phương. Họ cũng không có chữ viết riêng nên việc nghiên cứu, bảo tồn văn hóa là một thách thức lớn đối với những người tham gia công tác này.

Năm 2011, Đề án "Phát triển kinh tế - xã hội vùng các dân tộc: Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao 2011 - 2020" được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã mang lại một không khí mới cho các bản Cống cũng như 88 thôn, bản khác trên 27 xã thuộc 3 tỉnh: Lai Châu, Hà Giang và Điện Biên. Kỳ vọng rất nhiều, song đến nay, những vướng mắc trong đầu tư, hỗ trợ cũng không ít. Tình trạng "một vốn, bốn công trình", đầu tư dàn trải... diễn ra khá phổ biến khiến các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng cho các bản người Cống ở Điện Biên rơi vào tình trạng dang dở.

Thậm chí, khi các dự án hỗ trợ sản xuất có liên quan trọng yếu đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào phải nằm chờ vốn thì nhiều dự án chưa thực sự cấp bách lắm lại được triển khai. Đơn cử như nội dung cấp máy thu thanh nhằm nâng cao mức hưởng thụ về đời sống văn hóa tinh thần, kiến thức sản xuất và đời sống cho đồng bào.

Tại Điện Biên, tính đến đầu năm 2014, tỉnh đã cấp phát 193 máy thu thanh cho tất cả các hộ dân tộc Cống trên địa bàn, "vượt chỉ tiêu 3 cái". Trưởng bản Lò Văn Thắng nhẩn nha cho biết: "Đầu năm 2014, gia đình tôi và 51 hộ dân tộc Cống khác ở bản được hỗ trợ mỗi nhà 1 cái radio, nhưng chẳng mấy khi dùng. Cấp trên cho thì nhận thôi. Suốt ngày làm ngoài nương rẫy để đủ cái ăn, muốn đem đài lên nương cũng không được vì không đủ tiền để mua pin".

Khó khăn là vậy, nhưng người Cống ở vùng biên giới Điện Biên vẫn lặng lẽ sống đùm bọc, yêu thương nhau và đoàn kết với những dân tộc khác. Cuối tháng 5, sông Đà đang mùa nước cạn, các bản Cống rộn ràng điệu múa Hội mùa trong những ngày Tết Bắp ngô. Từng nhà thay nhau mời gọi bản làng về nhà mình chung vui, mừng mùa ngô đã được thu hoạch xong với những đồ lễ chính được chế biến từ ngô dâng lên thần linh trên trời và tổ tiên, cầu mong cho nương ngô lên xanh tươi, chăn nuôi tốt, mọi người có sức khỏe để con cháu hàng năm lại cúng Tết Ngô năm sau to hơn năm trước.

Từng nhịp "ta gơ" háo hức, những bước chuyển mình vui tươi; nhựa sống căng tràn trong vũ khúc bên sông mà ai dù thắm duyên ai vẫn thoáng e dè kín đáo. Tất cả như dòng mạch ngầm dưới đáy xuyên tan ngầm đá mà trên mặt sông nước chỉ lặng lờ trôi… Dẫu cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhưng họ không ngừng hy vọng vào những thế hệ tương lai…
Phạm Vân Anh

Bình luận

ZALO