Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 08:06 GMT+7

Người luôn "Thức với biển"

Biên phòng - Đến với thơ từ rất sớm, cho đến nay, nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Đình Tâm đã cho ra đời 4 tập thơ và thành công nhất là trường ca "Thức với biển". Tập trường ca ra mắt bạn đọc năm 2015, đoạt giải Nhất cuộc thi sáng tác văn học 70 năm ngành Giao thông Vận tải.

q13p_21-1.JPG
Nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Đình Tâm. Ảnh: Hồng Hà

Nhận xét về tập trường ca đoạt giải Nhất của Nguyễn Đình Tâm, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã nói: "Một trường ca với giọng thơ chắc khỏe, gân guốc tràn đầy cảm xúc trữ tình. Những chi tiết của thời kháng chiến được đưa vào tác phẩm một cách hài hòa, vừa đủ dung lượng để làm nên một trường ca hấp dẫn. Năm chương của trường ca gắn bó chặt chẽ phục vụ cho chủ đề tổng thể. Nhiều đoạn thơ cảm động, nhiều câu thơ hay điểm xuyết trong nhiều chương, đoạn tạo ấn tượng mạnh cho người đọc".

Để có một tập trường ca đầy chất anh hùng ca như thế, người viết chính là người trong cuộc. Trong cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc, nhà thơ Nguyễn Đình Tâm đã cùng các sinh viên, nhà giáo - chiến sĩ "xếp bút nghiên lên đường ra mặt trận" trở thành  sĩ quan của Đội tàu Giải phóng, thuộc Cục Vận tải đường biển.

Trong lời giới thiệu tập trường ca "Thức với biển", nhà thơ Vương Trọng cho viết: "Trường ca này là ký ức thơ của thủy thủ đoàn tàu biển vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men, hàng hóa… chi viện cho chiến trường, là bản hùng ca của vận tải biển trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nói đến các đoàn tàu vận tải biển trong giai đoạn này, bạn đọc nghĩ ngay đến những con tàu không số huyền thoại mà văn học, điện ảnh… đã có nhiều tác phẩm đề cập.

Nhưng bên cạnh những con tàu không số đó là những đoàn tàu có số, số lượng đông đúc hơn, làm công tác vận chuyển từ cảng Hải Phòng vào miền Nam khu Bốn. Chúng ta biết rằng, thời đó tất cả những nhịp cầu trên đường bộ đều bị phá hủy, các bến phà bị đánh phá ác liệt, công việc vận tải đường bộ gặp rất nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, năm 1968, để thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông Vận tải đã tăng cường tối đa vận chuyển chi viện cho chiến trường. Cục Đường biển mở chiến dịch VT5 huy động các Đội tàu Giải phóng (GF), Tự lực (TL), Quyết thắng (VS) và tàu Tankit (TK - chở xe tăng) vào chiến dịch.

Ngày đó, Nguyễn Đình Tâm là giảng viên đại học, dạy bộ môn động cơ đốt trong, nên được điều giữ chức danh sĩ quan Máy hai, rồi Máy nhất của tàu GF01 trực tiếp tham gia chiến dịch và anh đã có mặt trong suốt 14 chuyến vận tải, vượt qua bao thử thách ác liệt, nhiều lần được tặng các danh hiệu thi đua ngành Giao thông Vận tải. Anh tâm sự rằng, anh viết trường ca này để ghi lại một giai đoạn lịch sử ác liệt và hào hùng của dân tộc mà mình trực tiếp tham gia, đồng thời tri ân những đồng đội đã hy sinh vì Tổ quốc:

"Tôi là người may mắn hơn các anh
sóng dạt sang bờ sống
để đứng về phía biển
dâng những lời tri ân".


Nhà thơ Nguyễn Đình Tâm có duyên với biển ngay từ khi sinh ra. Ông tâm sự:

"Tôi sinh ra từ vùng quê biển Cửa Hội, nay là thị xã Cửa Lò, Nghệ An. Học xong, ra trường, được chuyên gia Liên Xô (Cũ) đào tạo hệ Viễn dương, về giảng dạy rồi làm Chủ nhiệm bộ môn Động cơ - Thiết bị nhiệt ở trường Đại học Hàng hải Việt Nam, đó cũng là điều kiện và lợi thế khi tôi đảm nhận trách nhiệm một sĩ quan Hàng hải tham gia các chiến dịch vận tải chi viện cho chiến trường trong thời chiến, rồi làm Chính ủy tàu biển trên những con tàu vượt đại dương đến các châu lục để làm và triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học. Tôi học khá về khoa học tự nhiên và rất yêu thơ (có lẽ tâm hồn của mẹ tôi đã truyền cho tôi từ ngày thơ bé).

Về Hải Phòng giảng dạy, tôi tìm đọc tạp chí Cửa biển, viết bài được nhà thơ Nguyễn Viết Lãm và nhà văn Nguyên Hồng đăng trong tạp chí, động viên, khích lệ và hướng dẫn sáng tác; rồi viết cho báo Văn nghệ, được chị Xuân Quỳnh và nhà thơ Phạm Hổ biên tập, duyệt đăng…

Năm 1975, tôi được nhà văn Nguyên Hồng ký quyết định kết nạp vào Hội Nhà Văn, từ đó tôi ý thức được trách nhiệm của người cầm bút. Năm 1977, nhà văn Nguyên Hồng và nhà thơ Nguyễn Viết Lãm phân cho viết một bản tham luận "Mối quan hệ giữa văn học và khoa học" để tham luận trong một cuộc hội thảo lớn toàn miền Bắc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Hạ Long. Bản tham luận của tôi đã gây được sự chú ý và cảm tình của nhiều người nghe".

Bước vào làng văn sớm, đến nay, nhà thơ Nguyễn Đình Tâm đã cho ra mắt bạn đọc 4 tập thơ và trường ca "Thức với biển" được coi là thành công hơn cả. Thơ Nguyễn Đình Tâm hồn hậu, giản dị như chính cuộc sống đời thường của ông vậy. Ông viết về những điều bình dị đời thường như bác đạp xe xích lô, những người thầy, những bà mẹ, đôi khi là cảm xúc trước mùa thu, trước biển, trước ban mai…

Đọc thơ ông, ta có cảm giác như đang được ru mình trong không gian thanh mát và tĩnh lặng. Trong ông, luôn thức sẵn hình ảnh của một người thầy đang miệt mài trên bục giảng cũng như trong cuộc sống hằng ngày:

"Bụi phấn của thầy giờ đã trắng đầu ta
Trái tim viết miệt mài chưa xong bản
chính
Những nếp sóng âm thầm trên vầng
trán
Đuổi nhau hoài mà chẳng kịp ước mơ".


Với sự học hỏi, sáng tạo không ngừng để đứng vững trên bục giảng, nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Đình Tâm đã được công nhận 15 năm liền là giáo viên dạy giỏi và nhiều năm liền là Chiến sĩ thi đua. Tâm sự về quãng thời gian giảng dạy thời kháng chiến ở trường Đại học Hàng hải, ông ngậm ngùi: "Thời đó, chúng tôi không chỉ giảng bài trên lớp, mà đêm đêm vẫn lần xuống các xóm làng phụ đạo cho từng học sinh học yếu ở vùng sơ tán tới tận đêm khuya… 

Niềm vui và tự hào của những người thầy như chúng tôi là sinh viên của mình giờ đã là những thuyền trưởng, máy trưởng - những  "Sói biển" thực thụ, bạc đầu giữa đại dương, đã và đang giữ nhiều cương vị chủ chốt trong Ban Giám hiệu, trong các khoa, Viện đào tạo sau đại học của các trường".

Giờ đây, dù tóc đã bạc nhưng trái tim ông vẫn còn xanh và tràn đầy nhiệt huyết. Ông vẫn miệt mài làm thơ, những vần thơ chứa đầy ký ức và hoài niệm của một người thầy về một thời hào hùng trong quá khứ. Ông viết: "Phải nén nấc gom từng phần xác bạn/ tay run run cứ chực khóc òa", rồi ngụp lặn trong chiều tìm bạn, gọi bạn vô vọng khi màn đêm ập xuống giữa biển cả mênh mông, sâu thẳm...

Chúng tôi truy điệu mình ở tuổi hai lăm (tuổi của những chàng trai đã tốt nghiệp ngành nghề), giành nhau đi phá thủy lôi những chuyến đầu, khi chúng ta chưa có phương tiện phá thủy lôi và bom từ trường trên biển, chỉ với một phương pháp giản đơn là bằng tốc độ, lướt nhanh cho bom từ trường nổ...".

Những vần thơ với sức rung cảm mạnh mẽ ấy cứ vang mãi trong lòng người đọc:

"Ta gọi tên bạn bè lớn lên từ những
dòng sông
cánh tay biển ôm tròn ba phần tư trái đất
tiếng đập cánh
giữa nền trời khao khát
nhịp sóng xanh
trùng điệp tới chân trời".
Hồng Hà

Bình luận

ZALO