Biên phòng - Làng Kon Klor 2, thuộc xã Đắk Rơ-wa bên kia sông Đắk Bla, được tách ra từ làng cũ Kon Klor bên này sông từ năm 1994 theo chương trình giãn dân lập ấp, định canh định cư của thành phố Kon Tum. Giãn dân qua bên kia sông thì phải có cầu để nối đôi bờ. Thế là chiếc cầu treo công nghiệp Kon Klor to đẹp nhất Tây Nguyên mang dáng dấp một chiếc đàn Tơ-rưng lớn được móc chùng cánh võng ngang sông, đẹp hoành tráng.
![]() |
| Nghệ nhân A Lưu. |
A Lưu đã nổi tiếng trong các buôn làng Ba Na quanh vùng từ mấy mươi năm nay về cái tài nhớ và "hơ-mon" (hát kể) rất hay các bộ truyện sử thi của dân tộc mình. A Lưu sinh năm 1943 tại làng Kơ-nâm, một làng Ba Na lâu đời, ở ven sông Đắk Bla, ngoại ô thành phố Kon Tum, gần làng Kon Klor. A Lưu lấy vợ là Y Hát, người làng Kon Klor nên về ở luôn bên vợ. Năm 1976, Y Hát mất, sau đó 3 năm, A Lưu lấy tiếp vợ kế là Y Pưi, cũng người làng này nên làng Kon Klor coi như bản quán của A Lưu. Cả hai người vợ, ai cũng yêu mê và tôn trọng tài hơ-mon của A Lưu, cùng động viên khích lệ chồng phục vụ hơ-mon cho cộng đồng buôn làng và những khi hội diễn do ngành văn hóa địa phương tổ chức.
Nghệ thuật hát kể sử thi Tây Nguyên thường được gọi là "khan" hay "hơ-mon"... Người Ba Na gọi là hơ-mon, không gọi khan như người Ê-đê hoặc "hơ-ri" như người Jơ-rai. Sử thi không có văn bản, chỉ nghe mà nhớ. Người hơ-mon phải là người có trí nhớ tốt, thuộc lòng những cốt truyện dài dằng dặc đan xen bao sự kiện. Phải có nhiệt huyết, niềm say mê mới làm được. Và một điều cũng không thể thiếu là phải có sức khỏe dẻo dai để diễn kể, vì có khi kéo dài cả đêm, cả ngày, hoặc mấy ngày mấy đêm liền.
A Lưu mê hơ-mon từ thuở 9, 10 tuổi. Nghe ông bà hơ-mon, rồi tiếp đến là cha A Lưi và mẹ Y Ngao đều biết hơ-mon. Đặc biệt, mẹ Y Ngao, một nghệ nhân hơ-mon hay nhất làng và cả khu vực, luôn được mời hơ-mon trong tất cả các cuộc vui buồn của cộng đồng. Hơ-mon cuốn hút lắm. Bà con buôn làng nghe say sưa từ đêm này sang đêm nọ, từ ngày này sang ngày khác. Không lần nào cha mẹ hơ-mon mà A Lưu không đi theo, chăm chú lắng nghe. Lâu ngày, A Lưu thuộc nằm lòng từng bộ sử thi lúc nào không hay, mặc dù chỉ học hết Tiểu học thì nghỉ, ở nhà làm nương rẫy phụ giúp gia đình. Những hình tượng anh hùng, những tình tiết thần thoại, những người tốt luôn chiến thắng, những kẻ xấu ác luôn bị thua đau... cứ sống động trong tâm trí A Lưu từ thuở thiếu nhi đến thời trẻ trai và mãi đến giờ là một lão nông.
Bây giờ, các nhà khoa học ở Viện Nghiên cứu văn hóa văn học dân gian Việt Nam đều biết tên ông, vì qua ông, người ta đã tìm lại được hàng trăm bản trường ca sử thi cổ quý giá của tộc người Ba Na vùng này. Số là, năm 1998, Chính phủ giao cho Viện Khoa học và Xã hội Việt Nam phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên thực hiện Dự án "Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên" trong khoảng thời gian kéo dài từ năm 2001 đến năm 2006. Với bề dày tài nghệ của mình, A Lưu được tiến cử để đoàn công tác kể trên... khai thác.
Trong khoảng 5 năm, A Lưu đã vận dụng hết trí nhớ và sức lực để hơ-mon đến cả trăm bộ sử thi Ba Na cho những người sưu tầm thu vào băng cát-sét. Mỗi bộ sử thi bình quân phải hơ-mon vài ngày mới hết. Năm 2005, A Lưu đã miệt mài hơ-mon hơn 1 tháng trời để thu 13 bộ vào 104 băng cát-sét loại dung lượng 90 phút. Năm 2006, ông tiếp tục hơ-mon để thu 8 bộ với 63 băng. Có khi mệt vô cùng, nhưng A Lưu vẫn cố gắng, vì biết đây chính là cơ hội để cái vốn văn hóa dân tộc mình được lưu truyền lại cho muôn đời sau.
Cái khó của người hơ-mon là toàn bộ sử thi chỉ lưu truyền miệng, nên có nhiều tình tiết, nhiều lời thoại khác nhau. Người hơ-mon ngày nay làm sao phải bám chắc theo "văn bản" gốc đã từng nghe và thuộc, đúng như ngôn ngữ và không khí cổ xưa, chứ không tùy tiện ngẫu hứng sáng tác thêm vào những lời mới, ý mới không hợp lý. Nếu không cảm được hồn của sử thi thì khó nhớ liền mạch được. A Lưu nói, mỗi lần hơ-mon như có thần linh truyền thêm nội lực cho mình, nên mới có được hứng khởi và sức khỏe để kể hát hết ngày sang đêm!
Trong cả trăm bộ sử thi A Lưu đã thuộc, đã hơ-mon không biết bao nhiêu lần trong đời, thì A Lưu thích nhất là bộ "Anh em Giông, Giỡ mồ côi từ nhỏ" (Giông, Giỡ tơrit pơti dâng iẽ). Bộ sách này đã được Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 2005, dày trên 500 trang. Sách ghi rõ: A Lưu hát kể, Võ Quang Trọng và Lưu Danh Doanh sưu tầm, A Jar và Y Hồng phiên dịch ra tiếng Việt. Đây là bộ sử thi nói lên sự vươn lên mạnh mẽ của con người trong mọi hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc sống. Cuối cùng cái thiện thắng cái ác để trường tồn. Nó như gián tiếp nói lên sức sống của người Tây Nguyên giữa bao khó nghèo, lạc hậu để tồn tại đến ngày nay.
Năm 2003, A Lưu được Giáo sư - Tiến sĩ khoa học Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam ký tặng Bằng công nhận "Nghệ nhân dân gian". Năm 2004, tại hội diễn Dân ca - Dân vũ khu vực tổ chức tại tỉnh Gia Lai, ông được Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam Vũ Văn Hiến ký tặng Bằng khen giải A. Năm 2006, ông được mời ra Thủ đô Hà Nội biểu diễn hơ-mon và được Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Đỗ Minh Nam ký tặng Bằng khen "Vì sự nghiệp sưu tầm và hát kể sử thi". Cũng năm 2006, ông nhận Bằng khen của Bộ Văn hóa với công lao bảo tồn di sản văn hóa. Có lần, Tiến sĩ Võ Quang Trọng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa văn học dân gian Việt Nam nói vui: "Ông già này mỗi khi hơ-mon là say sưa, có thể mấy tháng cũng không mỏi, không chán. Đúng là người sống chết với sử thi"!
Giờ đây, A Lưu luôn trăn trở vì hơ-mon có nguy cơ chấm hết. Một phần do lớp người biết hơ-mon ngày nay đã già và chỉ đếm trên đầu ngón tay, một phần do ngành chức năng và địa phương chưa có kế hoạch hỗ trợ, tổ chức truyền dạy bài bản cho thế hệ tiếp theo, phần nữa, do lớp trẻ bây giờ sẵn tivi, mạng internet... không còn mặn mà với hơ-mon nữa. Ngay Y Hem, con gái ông thích thú hơ-mon, đã cố gắng học ở cha, nhưng trí nhớ không được tốt. A Lưu ngậm ngùi: "Nếu nay mai mình mất thì coi như mang theo hơ-mon về đất"!
Không những lo mất sử thi, A Lưu còn bận tâm với việc làm sao lưu giữ cây klor, biểu tượng của làng. A Lưu bảo: "Gia đình tôi sẽ truyền bảo nhau chăm sóc cây klor con mọc ở sau vườn nhà để nó cao lớn bằng cây đại thụ xưa".
Bây giờ con cái đã lớn, dựng vợ gả chồng hết rồi, có lẽ già A Lưu đỡ lo chuyện cơm áo gạo tiền nên càng suy nghĩ, làm sao bảo tồn được những nét văn hóa truyền thống của dân tộc và của làng buôn mình, đặc biệt là hơ-mon.







