Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 03:44 GMT+7

Người mang gươm đi mở cõi

Biên phòng - Mở đầu bài thơ "Nhớ Bắc" của "Thi tướng" Huỳnh Văn Nghệ làm tại ga Sài Gòn năm 1940 viết:

"Ai về Bắc, ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long".


Người mang gươm đi mở cõi được nhớ và nhắc đến ở đây chính là Nguyễn Hoàng. "Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng!" - vị Chúa đầu tiên (Chúa Tiên), người khai sáng triều Nguyễn, triều đại cuối cùng ở Việt Nam.

Nguyễn Hoàng sinh ngày 10 tháng 8 năm Ất Dậu (28-8-1525), người Gia Miêu ngoại trang, Tống Sơn, Hà Trung, Thanh Hóa, là con trai thứ hai của Nguyễn Kim, vị tướng chủ yếu đã có công  giúp cho nhà Lê được trung hưng. Năm 1545, Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc chết, nên quyền bính phò Lê thuộc về Trịnh Kiểm, con rể của Nguyễn Kim, chồng của Ngọc Bảo (chị gái Nguyễn Hoàng).

Theo dư luận, Trịnh Kiểm lo sợ các em trai của vợ giành mất địa vị của mình, nên đã tìm cách giết chết người con trưởng của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông, em Nguyễn Uông là Nguyễn Hoàng phải giả điên để hóa giải nghi kỵ. Người cậu ruột của Nguyễn Hoàng là quan Thái phó Nguyễn Ư Dĩ lo cho cháu bèn tìm đến gặp Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm để xin lời khuyên. Trạng Trình chỉ nói một câu để bình luận phong cảnh của đất nước xa gần: "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (Một dãy núi Hoành Sơn, có thể dung thân muôn đời).

fjxm_23-1.jpg
Minh họa: Minh Khuê
 
Nghe theo lời gợi ý của Trạng Trình, Nguyễn Hoàng nhờ chị gái Ngọc Bảo xin anh rể cho mình vào trấn giữ đất Thuận Hóa và được Trịnh Kiểm đồng ý.

Vùng đất Thuận Hóa vẫn được coi là nơi Ô châu ác địa, xa xôi, hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, lại có nhiều giặc giã nên Trịnh Kiểm không còn phải lo Nguyễn Hoàng tranh chấp quyền hành gì với mình được nữa. Vì thế, năm Mậu Ngọ (1558), Trịnh Kiểm tâu với vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, toàn quyền xử lý mọi việc.

Sau khi có lệnh, bất chấp mùa đông giá rét, Nguyễn Hoàng cho quân giong buồm đi ngay. Những người họ hàng, đồng hương, nghĩa dõng ở Tống Sơn theo Nguyễn Hoàng rất đông. Khi đoàn thuyền đi qua Thanh - Nghệ - Tĩnh, nhiều người hưởng ứng đưa cả vợ con đi theo có đến nghìn người.

Địa bàn trấn trị của Nguyễn Hoàng lúc đầu gồm có hai phủ Tân Bình và Triệu Phong, trải dài từ châu Bố Chính (tức Nam Bố Chính thuộc khu vực Bắc Quảng Bình) cho đến huyện Điện Bàn (Bắc Quảng Nam ngày nay).

Với một địa bàn trải dài như vậy, ông buộc phải chọn xứ Sa Khư (bãi cát Cồn Cỏ), xã Ái Tử thuộc huyện Đăng Xương, là nơi giáp giới giữa hai phủ để đóng dinh, rồi hoạch định đường lối cai trị với sự trợ giúp tận lực, tận tâm của Thái phó Nguyễn Ư Dĩ, Mạc Cảnh Huống và Tống Phước Trị. Sử cũ cho biết, phải 12 năm sau (1570), Chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) mới được vua Lê cho phép kiêm cai trị cả trấn Quảng Nam.

Rồi 32 năm sau nữa (1602), Chúa Tiên mới có cuộc kinh lý đến Hải Vân quan, "thấy một dải núi cao dăng dài mấy trăm dặm nằm ngang đến bờ biển", Chúa Tiên bèn vượt núi, xem xét hình thế, dựng trấn dinh ở xã Cần Húc, huyện Duy Xuyên. Chỉ 2 năm sau đó (1604), Chúa Tiên đã thực hiện một quyết định rất quan trọng là tách Điện Bàn ra khỏi trấn Thuận Hóa cho lệ vào trấn Quảng Nam, lấy đất Điện Bàn làm trấn dinh của dinh Quảng Nam, cử chính con mình (Thế tử) ra tập sự cai trị.

Để có được quyết định quan trọng này, theo "Đại Nam thực lục", từ lâu Chúa Tiên đã thấy "Quảng Nam đất tốt, dân đông, sản vật giàu có, số thuế nộp vào nhiều hơn Thuận Hóa, mà số quân thì cũng bằng quá nửa. Chúa thường để ý kinh dinh đất này", khi đứng trước Hải Vân quan hùng vĩ, Chúa Tiên khen rằng: "Chỗ này là đất yết hầu của miền Thuận Quảng" và còn "khen mãi cho là nơi cảnh đẹp, núi kỳ".

Nguyễn Hoàng là người khôn ngoan, nhân hậu, lưu tâm đến dân tình, hết lòng thu dung hào kiệt, giảm sưu, hạ thuế, khiến lòng người ai cũng mến phục. Nhân dân xưng tụng ông là Chúa Tiên hay Tiên chủ. Khoảng 40 năm đầu vào vùng đất mới, Nguyễn Hoàng chú trọng khai hoang lập ấp, phát triển kinh tế, gây nuôi lực lượng tính kế lâu dài. Công cuộc khẩn hoang và rộng rãi của Nguyễn Hoàng đã đem lại hiệu quả rõ rệt về mọi mặt.

Mục tiêu số một của Nguyễn Hoàng khi quyết định vào Nam dựng nghiệp là xây dựng một vương triều độc lập, thoát ly hẳn sự lệ thuộc với triều đình vua Lê, chúa Trịnh. Tuy nhiên, do điều kiện và hoàn cảnh lúc đó, ông phải hết sức kín đáo để tránh mọi sự hoài nghi của chúa Trịnh. Bề ngoài, Nguyễn Hoàng vẫn giữ quan hệ bình thường và hoàn thành tốt nghĩa vụ với vua Lê. Để tránh sự nghi kỵ của chúa Trịnh, năm 1569, ông ra chầu vua Lê ở An Trường, việc đó tăng thêm sự tín nhiệm nên năm 1570, Chúa Tiên được giao kiêm trấn thủ đất Quảng Nam như trên đã nói. Ảnh hưởng chính trị của Chúa Tiên lan rộng đến Đồng Xuân, Tuy Hòa.

Để giữ lòng tin với triều đình Lê - Trịnh, Nguyễn Hoàng còn để lại một số người con, cho làm quan dưới triều Lê (như Nguyễn Hà, Nguyễn Hải), gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng (con cả chúa Trịnh Tùng). Không những thế, Nguyễn Hoàng còn đem quân ra Đông Đô giúp Trịnh Tùng đánh dẹp dư đảng họ Mạc. Ông đã từng lưu lại ở miền Bắc với nhà Lê đến 7 năm. Vì lập được nhiều chiến công, ông được vua Lê tấn phong làm Trung quân đô đốc thủ phủ tả đô đốc chưởng phủ sự Thái úy Đoan Quốc công.

Để tránh Trịnh Tùng hãm hại, năm Canh Tý (1600), Nguyễn Hoàng lấy cớ đem quân đi đánh dẹp cuộc nổi loạn ở Nam Định, sau đó Nguyễn Hoàng cùng các tướng tâm phúc ra biển giong thẳng vào đất Thuận Hóa, để con trai thứ 5 là Hải và cháu là Hắc ở lại làm con tin. Sau đó, vua Lê sai sứ giả vào phủ dụ, vẫn để Nguyễn Hoàng trấn thủ đất Thuận Quảng, hàng năm nộp thuế má đầy đủ. Trịnh Tùng cũng gửi thư kèm theo khuyên giữ tốt việc tuế cống.

Từ đó, Nguyễn Hoàng không ra Đông Đô nữa. Trịnh Tùng cũng chẳng dám đụng chạm đến việc này. Có thể nói, từ năm 1600, Nguyễn Hoàng bắt đầu xây dựng một giang sơn cho họ Nguyễn ở Đàng Trong.

Thuận Quảng vốn là đất cũ của người Chiêm, chịu ảnh hưởng văn hóa Chăm Pa, Chúa Tiên đã dùng Phật giáo để thuần hóa nhân dân dưới quyền ông. Ông đã cho sửa sang và xây dựng nhiều ngôi chùa.

Năm 1602, ông cho sửa chùa Sùng Hóa ở xã Triêm Ân (Phú Vang) và dựng chùa Long Hưng (phía Đông Trấn dinh, thuộc huyện Duy Xuyên). Năm 1607, dựng chùa Bảo Châu ở Trà Kiệu. Năm 1609, dựng chùa Kính Thiên (Thuận Trạch, Quảng Bình). Trong đó, công việc lớn nhất, có giá trị nhất là việc Chúa Tiên đã xây dựng chùa Thiên Mụ năm 1601.

Ngay sau khi được xây dựng, chùa Thiên Mụ đã trở thành biểu tượng của sự linh thiêng, biểu tượng của sự hòa hợp các loại hình tôn giáo tín ngưỡng tại địa phương và cũng là biểu tượng cho sự ủng hộ của thần linh bản địa đối với họ Nguyễn. Ngôi chùa này nổi tiếng cho đến ngày nay. Đây cũng là ngôi chùa lịch sử có quan hệ mật thiết với quá trình phát triển đất Thuận Hóa và triều Nguyễn ở Việt Nam.

Dưới thời trị vì của Nguyễn Hoàng, vùng đất Thuận Quảng ngày càng thịnh vượng, nhân dân được an cư lạc nghiệp, buôn bán, thương cảng phát triển... Được như vậy trước hết là do sự cai trị tài giỏi của Chúa Tiên, hơn nữa, đây còn là vùng đất mới khai phá, có nhiều điều kiện để phát triển và do cư dân gồm đại bộ phận là những người lao động cần cù, tháo vát, dũng cảm, có đầu óc dám nghĩ dám làm đến khai phá vùng này.

Ngay cả các sử thần Lê - Trịnh cũng viết: "Đất Thuận Quảng lại được yên. Nguyễn Hoàng trị nhậm mấy chục năm, chính lệnh khoan hòa, thường ban ơn huệ, dùng phép công bằng, khuyên răn bản bộ, cấm trấp những kẻ hung ác; dân hai trấn đều cảm lòng mến đức, thay đổi phong tục, chợ không nói thách, dân không trộm cắp, cổng ngoài không phải đóng, thuyền buôn nước ngoài đều đến buôn bán, đổi trao phải giá, quân lệnh nghiêm cẩn, mọi người ra sức. Từ đấy người Mạc không dám dòm nom, trong cõi được yên ở làm ăn". ("Đại Việt sử ký toàn thư", Tập IV, Nxb Khoa học Xã hội, H.1973, trang 161).

Năm 1613, biết mình không thể sống lâu hơn nữa, Nguyễn Hoàng cho triệu công tử thứ sáu là Nguyễn Phúc Nguyên đang trấn thủ Quảng Nam ra. Chúa bảo các cận thần rằng: "Ta với các ngươi cùng nhau cam khổ đã lâu, muốn dựng nên nghiệp lớn. Nay ta để gánh nặng lại cho con ta, các ngươi nên cùng lòng giúp đỡ cho thành công nghiệp".

Rồi bảo Nguyễn Phúc Nguyên rằng: "Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, anh em trước hết phải thương yêu nhau. Con giữ được lời dặn đó thì ta không ân hận gì nữa. Đất Thuận Quảng này phía Bắc có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, phía Nam có các núi Hải Vân, thật là nơi trời để cho người anh hùng dụng võ. Vậy con phải thương yêu nhân dân, luyện tập quân sĩ để gây dựng cơ nghiệp muôn đời".

Nguyễn Hoàng mất năm Quý Sửu (1613), thọ 89 tuổi, trấn thủ Thuận Quảng được 56 năm. Sau triều Nguyễn truy tôn là Thái tổ Gia Dụ hoàng đế. Nếu không kể thời gian trị vì ngắn ngủi của nhà Tây Sơn (1788-1801) thì từ khi Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa (1558) cho đến ngày vua Bảo Đại thoái vị (tháng 8-1945), dòng họ Nguyễn đã cai trị miền Nam (1558-1776) và trị vì ngôi báu (1802-1945) non 4 thế kỷ với 9 đời chúa và 13 đời vua. 3 trong 4 thế kỷ ấy, Việt Nam đã hoàn thành việc mở cõi từ Thuận Quảng đến tận mũi Cà Mau.
Đặng Việt Thủy

Bình luận

ZALO