Biên phòng - Dưới thời nhà Nguyễn, cơ quan chuyên lo chuyện làm lịch là Khâm Thiên Giám. Trông coi Khâm Thiên Giám gồm các vị quan Giám chính, Giám phó, Linh Đài lang... dưới sự quản lý của một đại thần giỏi về lý số do nhà vua bổ nhiệm, hay kiêm nhiệm.
Khâm Thiên Giám ở kinh đô Huế
Đầu thế kỷ XX, vai trò của Khâm Thiên Giám chỉ rút gọn lại trong việc làm lịch và coi ngày tốt xấu, coi đất, chọn huyệt... Vì vậy, đến đời vua Duy Tân (1907-1916), Khâm Thiên Giám dời khỏi Nam Đài, về khu Bộ Học (trên đường Hàn Thuyên ngày nay) và đóng đô ở đó đến tháng 8-1945. Bây giờ vẫn còn dấu tích của Khâm Thiên Giám là chiếc cổng vòm rêu phong, ở đường Hàn Thuyên, trồng đầy cây mù u trong thành nội Huế.
Khâm Thiên Giám làm việc với những khí cụ do vua ban (đều là đồ ngoại nhập mua từ Trung Hoa hay các nước Tây phương), nào chuông định giờ, thước đồng, cây đo bóng mặt trời, đồng hồ cát, phong vũ biểu, chậu hứng nước mưa để đo vũ độ, thiên lý kính, bản đồ thiên văn... Hầu hết sách chuyên môn để các quan nghiên cứu, tham khảo và huấn luyện lại đều là sách... Tàu, nhưng họ cũng học cách tính toán sự chuyển động của các thiên thể trong Thái Dương hệ theo cách Tây phương.
Tuy sở học "Tây - Tàu bất nhất" như vậy, nhưng các quan Khâm Thiên vẫn tính toán được ngày giờ, nhật thực, nguyệt thực, sao chổi khá chính xác, để trình lên nhà vua hàng tháng trước. Sau đó, thông báo về các địa phương sẽ xảy ra hiện tượng ấy, để họ quan sát, theo dõi và báo cáo về triều.
Năm Tự Đức thứ hai (1848), Thượng thư Bộ Hình Trương Quốc Dụng (người Hà Tĩnh) - kiêm chức Giám chính Khâm Thiên Giám đã dự báo chính xác nhật thực sẽ xảy ra vào giờ ngọ, ngày mùng một Tết. Tin rằng đó là một dấu hiệu cảnh cáo của Trời, vua Tự Đức chỉ ở trong cung trai giới và ra lệnh cho các hoàng hậu, hoàng thân quốc thích, quan lại khắp nơi không được bày yến tiệc vui chơi.
Làm lịch cho cả nước
Mỗi năm, Khâm Thiên Giám phải làm ra một cuốn lịch mới. Đây là cơ quan duy nhất được làm lịch cho cả nước sử dụng. Thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Hữu Thận (người Quảng Trị) kiêm chức Giám chính Khâm Thiên Giám nổi tiếng cả 2 triều Gia Long và Minh Mạng. Ông chuyên trách làm "Ngự lịch" là lịch đặc biệt dâng lên cho vua, "Quan lịch" là lịch dành cho các quan và "Dân lịch" là lịch ban phát xuống các làng xã. Ngoài ra, còn "Long phụng lịch" là thứ lịch đặc biệt, chỉ để thờ tại các miếu trong đại nội (Thái miếu, Thế miếu, Hưng miếu, Triệu miếu) và thờ tại các lăng tẩm nhà vua.
Về hình thức cuốn Ngự lịch, ruột vẫn đóng theo kiểu sách cổ, nhưng bìa làm bằng một tấm lụa màu vàng, thêu rồng mây liền từ sau ra trước gọi là "Đoạn bát ty". Ở giữa có một cái nhãn, cũng bằng chất đoạn, màu hoa đào, thêu nổi hai chữ "Ngự lịch". Kỹ thuật in lịch hồi ấy rất lạc hậu, dùng mộc bản gỗ thị khắc chữ, mỗi bản in một tờ. Vậy mà bằng cách đó, mỗi năm Khâm Thiên Giám cung cấp lịch cho cả nước, các làng xóm xa xôi đều có.
Đường sá khó khăn, phương tiện vận chuyển thô sơ, vào năm 1809, vua Gia Long cho các địa phương báo cáo về Bộ Hộ số lịch tiêu chuẩn. Bộ Hộ chuẩn bị từ đầu tháng 4, Bắc thành (Hà Nội) và Gia Định thành sẽ cử người đến Khâm Thiên Giám - Huế nhận bản thảo, đem về tự khắc và in. Đến tháng 10, lại cử người đến kinh thành nhận bìa lịch có đóng ấn của Khâm Thiên Giám (Ấn Đại Nam Hiệp Kỷ lịch chi bảo). Đóng lịch xong, phải chờ đến ngày triều đình làm lễ "Ban sóc", thì các nơi mới làm lễ "Thọ lịch" và ban phát lịch. Các vua thời Nguyễn xem lịch tiết gắn bó mật thiết với đời sống nông dân, nên lễ "Ban sóc" tổ chức rất long trọng.
Khâm Thiên Giám phát hành cuốn lịch cuối cùng là " Đại Nam Bảo Đại nhị thập niên tuế thứ - Ất Dậu hiệp kỷ lịch" (năm 1945).
Vũ Hào







