Biên phòng - Trong văn xuôi về đề tài dân tộc và miền núi, Nguyên Ngọc là một phong cách độc đáo. Cả tâm hồn và đời văn Nguyên Ngọc mang những đặc điểm nổi bật của văn học cách mạng là ca ngợi chủ nghĩa anh hùng trong cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi. Cuộc kháng chiến, hay cũng là số phận, đã đưa Nguyên Ngọc đến với Tây Nguyên hùng vĩ để từ đó khởi đầu một văn nghiệp gắn với một thế giới miền núi riêng theo quan niệm của ông - một miền núi với những con người, sự tích phi thường.
Đó là những con người có khả năng phát sáng ở mọi nơi, mọi lúc, đẹp trên từng ý nghĩ hành động. Bản thân họ không đơn thương độc mã như những anh hùng cá nhân Đam San, Xing Nhã trong sử thi mà mang tư thế, ý chí của người anh hùng tập thể. Đứng quanh họ, nâng đỡ cho họ, dân làng Kông Hoa, dân làng Xô Man đều là những tập thể anh hùng.
Xét theo kiểu loại nhân vật thì những người hùng của Nguyên Ngọc không khác về tính chất so với những nhân vật sử thi khác trong văn học cách mạng như anh Trỗi, Út Tịch, chị Sứ, Lữ…, nhưng do đặc điểm của vùng đất, do phong cách của tác giả mà hình tượng người anh hùng miền núi của Nguyên Ngọc mang một sắc thái riêng. Ở họ có cái gì đó vừa hoang dã, cổ xưa, vừa lớn lao, huyền thoại.
![]() |
Trong thế giới những người anh hùng của Nguyên Ngọc, còn nổi lên một số tính cách mang vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa. Đó là Thào Mỹ, cô gái có sức quyến rũ kì lạ đã vào tận sào huyệt của tướng phỉ để đưa thư dụ hàng của quân đội cách mạng; là Sùng Chóa Vàng, "một chiến sĩ thiện chiến bậc nhất", "vô cùng dũng cảm và vô cùng tự do", người có mặt trong những trận đánh khó khăn ác liệt nhất, người làm những việc hiểm nguy nhất, người yêu vợ nhất và cũng là người "ve gái" tài nhất (Trở lại Mèo Vạc).
Những con người đẹp, dũng cảm và tài hoa như vậy gợi nhớ đến những nhân vật lí tưởng mang tính huyền thoại trong truyện ngắn lãng mạn của Gorki. Trong cái nhìn của Nguyên Ngọc, phẩm chất anh hùng không chỉ bộc lộ trong chiến tranh mà trong cả lao động và tình yêu. Tập truyện Rẻo cao là một ví dụ, với tinh thần dũng cảm của những cán bộ, công nhân, cô giáo, học sinh tham gia vào công cuộc kiến thiết và xây dựng đời sống. Ở đây, sự thăng hoa của cảm hứng anh hùng có khi làm xuất hiện chi tiết lạ lùng: Anh Pồn, một người Tày bị mù từ nhỏ mà có khả năng xuất chúng, ở nơi rừng núi mà sáng chế được nhiều loại máy có ích cho đời (Pồn)…
Con người miền núi trong sáng tác Nguyên Ngọc còn là những con người nghệ sĩ. Cũng như nhiều nhân vật anh hùng của ông, nhân vật nghệ sĩ là những người thật hoặc có nguyên mẫu trong cuộc đời. Đó là Ngọc Anh, Người nghệ sĩ vô danh đã sinh ra cây k'nia, tác giả lời bài hát Bóng cây k'nia nổi tiếng. Đó là gia đình nghệ sĩ Y Yơn, một gia đình kì lạ, phi thường - bản thân Y Yơn là một "nghệ sĩ lang bạt kì hồ đến tận máu thịt", còn Y Tam người cha là "nghệ sĩ trời sinh, tự trong máu, như một thứ bệnh di truyền" và Hlum người mẹ "cũng nghệ sĩ chẳng kém gì chồng" (Người hát rong giữa rừng). Những bài tình ca Y Yơn hát nung nấu một tình yêu quê hương, không dính đến chính trị mà có sức mạnh ghê gớm, khiến hàng trăm ngàn người ở Tây Nguyên theo giặc đã buông súng trở về.
Trong cảm hứng sáng tạo của Nguyên Ngọc, tính cách nghệ sĩ còn hiện hữu ở những người vốn không phải nghệ sĩ. Sùng Chóa Vàng trong bút kí Trở lại Mèo Vạc là "một tâm hồn nghệ sĩ đến tận máu thịt". Hai chú cháu người Mèo (Mông) trong truyện ngắn Rẻo cao cũng nghệ sĩ, lãng mạn như nhau: Cứ đến mùa xuân, cậu cháu lại mải hái hoa cho gái trên đường nên chậm chuyển công văn giấy tờ từ huyện về các xã; ông chú đang bực cháu, chỉ thoáng ngửi mùi hoa xuân "thơm đến tận đáy lòng", nguôi hết giận. Tâm hồn lãng mạn còn tiềm ẩn trong anh Pồn mù có "nhiều ước mơ và tưởng tượng", mù nhưng vẫn cảm nhận và hướng về cái đẹp - một cánh chim đẹp, một người con gái đẹp và hình dung về màu sắc quanh mình.
Có tập thể anh hùng, cũng có tập thể nghệ sĩ, đó là những con người Tây Nguyên đầy tài năng và tâm hồn âm nhạc. Trong gian khổ cùng cực, vào lúc tưởng không ai chịu đựng nổi nữa, thì lũ làng Kông Hoa cất lên tiếng hát, tiếng đàn (Đất nước đứng lên). Cũng bởi tâm hồn tràn đầy khúc nhạc lãng mạn của tình yêu người, yêu thiên nhiên say đắm mà bao đôi trai gái theo tiếng kèn tình đuổi tìm nhau suốt ngày trong rừng hoa (Mùa xuân hoa trắng). Nguyễn Đăng Mạnh gọi Nguyên Ngọc là "con người lãng mạn", quả thực, chính văn ông đã cho thấy ông thuộc số nhà văn có tâm hồn nghệ sĩ nhất, lãng mạn nhất.
Một nét khá hấp dẫn ở các nhân vật của Nguyên Ngọc là sắc thái "người rừng". Đặc điểm này khiến cho chất miền núi của nhân vật nổi đậm và phát lộ ngay từ những chi tiết ngoại hiện. Tnú là người như thế, khi làm liên lạc cho cán bộ, bị giặc bao vây thì "leo lên một cây cao, nhìn quanh một lượt, rồi xé rừng mà đi", qua sông "cứ lựa chỗ thác mạnh nhất mà bơi ngang, rượt lên trên mặt nước, cưỡi lên thác băng băng như một con cá kình" (Rừng xà nu).
Nghệ sĩ Y Yơn cũng vậy, dù đã từng học ở trường Tây, nhưng "vẫn cứ là một kiểu "người rừng", tự nhiên và hoang dã, như một cây cổ thụ hay một con thú hoang trong rừng Tây Nguyên" (Người hát rong giữa rừng). Màu sắc tiền sử này không chỉ bộc lộ ở các nhân vật thuộc Tây Nguyên, vùng đất còn mang nặng tính chất thị tộc, bộ lạc, mà biểu hiện ở cả những nhân vật thuộc các tộc người ở miền núi phía Bắc. Chỉ thoáng hiện vài nét, khí chất mạnh mẽ hoang dại ấy cũng hiện lên ở chàng thanh niên Mèo (Mông) trong Rẻo cao qua động tác vồ lấy người chú như một con thú rừng và leo cây chuyền cành như vượn; ở em gái người Quý Châu coi rừng là mẹ, "trong máu em chảy những yếu tố của rừng", "rừng nói với em bằng những mùi phức tạp mà em nghe thấy…" (Dũng cảm).
Con người phi thường, thiên nhiên cũng dữ dội, phi thường. Đây là cảnh ở Tây Nguyên: "Mưa như thác đổ. Đường thăm thẳm dốc, cua tay áo liên tiếp, be bét bùn đất đỏ như máu, suốt mấy chục cây số toàn một bên vách đứng một bên vực sâu đen ngòm" (Tháng Ninh Nông). Và cảnh vùng cực Bắc: "Ngọn núi lớn có lẽ từ hàng triệu năm trước, một hôm nào đó, đột ngột bị một nhát rìu khổng lồ chém đứt làm đôi, nhát chém dữ dội và sắc lẹm quá, cả trái núi đá hàng vạn mét khối bị bổ dọc, nứt toác ra, hai bờ thẳng đứng, bên này là Mã Pi Lèng, bên kia là Săm Pun, ở giữa dưới nghìn mét sâu là con sông Nho Quế leo lẻo xanh đến rợn người" (Trở lại Mèo Vạc).
Trên cái công trình khủng khiếp của tạo hóa ấy vẫn trơ trơ tồn tại những người Mông nổi tiếng về nghệ thuật xếp đá để chống chọi với trời đất, thiên tai. Có thể nói ở đây, cái phi thường trùm lên mọi đối tượng, từ con người đến núi non thiên tạo. "Không có cái giữa chừng, không có sự trung bình, chỉ có cực điểm. Núi non ở đây là thế. Con người là thế" (Trở lại Mèo Vạc). Trong quan niệm này, cảm hứng về cái tột đỉnh, phi thường khiến Nguyên Ngọc gặp gỡ Nguyễn Tuân ở khuynh hướng thẩm mĩ. Với tác giả Sông Đà, vực phải thẳm, thác phải dữ, núi "vót ngọn xanh", và thế giới toàn những con người tài hoa, nghệ sĩ.
Suốt đời săn tìm sự phi thường với những biểu hiện ở cái đẹp, cái hùng, Nguyên Ngọc thường sáng tạo trong văn mình những hình ảnh kì vĩ, tráng lệ, gây ấn tượng về một vẻ đẹp siêu phàm. So sánh được vận dụng để tạo hình ảnh, thường đặt con người ngang tầm vóc lớn của tự nhiên: Ngực cụ Mết "căng như một cây xà nu lớn" (Rừng xà nu); cụ Xớt "cả người quắc thước như một ngọn núi đá" (Người dũng sĩ dưới chân núi Chư Pông); vẻ đẹp của Thào Mỹ "im lặng trầm uất như một ngọn núi Mèo cô độc" (Trở lại Mèo Vạc); cây xà nu "đổ ào ào như một trận bão", "ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời" (Rừng xà nu).
Các hình ảnh thường mang tính cường điệu để diễn tả sự phi thường: "Ở trên núi cao này hình như gần trời hơn, nên các vì sao to hơn, lóng lánh hơn và trong sạch hơn" (Kỉ niệm Tây Nguyên); đôi mắt căm thù của Tnú "bây giờ là hai cục lửa lớn" (Rừng xà nu); ý chí của Kpa Kơ Lơng quyết liệt đến mức "dù phải san bằng ngọn núi Chư Pông, phải tát cạn con sông Ia Mơ nó cũng làm" (Người dũng sĩ dưới chân núi Chư Pông)… Tính cách điệu, cường điệu ở đây là đặc điểm giống với cách miêu tả trong văn xuôi Ma Văn Kháng.
Cảm hứng về cái phi thường thấm vào nhiều phương diện, yếu tố, từ nhân vật đến ngôn ngữ, cách miêu tả con người và thiên nhiên trong tác phẩm của Nguyên Ngọc đã mang lại cho người đọc những xúc cảm thẩm mĩ mãnh liệt, kì thú. Một góc độ nhận thức và thể hiện miền núi như vậy là đóng góp quý giá của Nguyên Ngọc, bổ sung cái nhìn độc đáo về những vùng đất chiếm phần lớn lãnh thổ đất nước với không hiếm sự tích kì diệu, phi thường.







