Biên phòng - Hai cuộc chiến tranh thế giới diễn ra ở nửa đầu thế kỷ XX đã gây cho nhân loại những đau thương không thể nào kể xiết. Để ngăn ngừa thảm họa của chiến tranh, bảo vệ các giá trị nhân phẩm, quyền con người và sự bình đẳng, các quốc gia đã thỏa thuận thông qua Hiến chương Liên hợp quốc - một văn bản pháp lý quốc tế quan trọng; trong đó, quy định (Điều 2): "Tất cả các thành viên của Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hòa bình, sao cho không tổn hại đến hòa bình, an ninh quốc tế và công lý". Và "các quốc gia thành viên Liên hợp quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên hợp quốc".
![]() |
| Chiến sĩ Hải quân Việt Nam tuần tra trên đảo Sinh Tồn. Ảnh: Internet |
Thế nhưng, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực chiếm cứ bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa (1956, 1974), một số đảo, bãi đá ngầm ở quần đảo Trường Sa (1988) của Việt Nam và mới đây (ngày 2-5-2014), họ đã hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 (Haiyang Shiyou 981) nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; đồng thời, trắng trợn đưa tàu quân sự, máy bay trinh thám khiêu khích, tấn công lực lượng thi hành pháp luật của Việt Nam xung quanh khu vực này… Hành động của Trung Quốc không những đã xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng biển, đảo của Việt Nam, mà còn vi phạm thô bạo luật pháp và các chuẩn mực pháp lý quốc tế.
Trước tình hình căng thẳng ở Biển Đông, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã chủ trương giải quyết tình hình bằng biện pháp hòa bình, theo đúng luật pháp quốc tế, yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 và đưa các tàu ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam; đồng thời, tiến hành đàm phán để giải quyết các bất đồng về Biển Đông.
Tuy nhiên, cho đến nay, Trung Quốc không những không đáp ứng lại thiện chí của Việt Nam, mà còn đưa ra các cáo buộc vô căn cứ, bóp méo sự thật, vu cáo Việt Nam đâm các tàu của Trung Quốc hơn 1.500 lần?… Đặc biệt, trong chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam, ông Dương Khiết Trì, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc đưa ra yêu cầu "bốn không" đầy toan tính và phi lý; trong đó, yêu cầu Việt Nam "không được sử dụng các "tư liệu lịch sử" để gây hiểu lầm cho cộng đồng quốc tế và dư luận Việt Nam về chủ quyền ở Tây Sa, Nam Sa (tức Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam)".
Thái độ thiếu thiện chí và bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc còn thể hiện ở chỗ, trong khi ông Dương Khiết Trì đang dự cuộc họp Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt-Trung trong đó có nói về tình hình Biển Đông thì Trung Quốc lại tiếp tục chuẩn bị và đưa thêm giàn khoan Nam Hải 9 vào Biển Đông để thăm dò, khai thác dầu khí.
Hành động đơn phương của Trung Quốc trên Biển Đông không những đã vi phạm các chuẩn mực pháp lý quốc tế, mà còn thể hiện thái độ vô trách nhiệm, thiếu thiện chí của Trung Quốc đối với các vấn đề quốc tế và khu vực, có thể lý giải trên các khía cạnh như sau:
Một là, việc Trung Quốc khước từ đàm phán giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông là hành động vi phạm pháp luật và các chuẩn mực pháp lý quốc tế.
Hiến chương Liên hợp quốc quy định (Điều 33): "Các bên tranh chấp trước hết, phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những điều ước khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình…".
Nói cách khác, quy định giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình là một trong các chuẩn mực pháp lý quốc tế… Quy định trên đã chỉ ra rằng, việc tìm kiếm biện pháp giải quyết tranh chấp thể hiện trên hai khía cạnh: Thứ nhất, các quốc gia có thể lựa chọn, sử dụng một trong các phương pháp hòa bình, như: Đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những điều ước khu vực, hoặc bằng các biện pháp hoà bình khác; Thứ hai, sử dụng phương pháp hòa bình là thể hiện thái độ trách nhiệm và ý thức tuân thủ luật pháp quốc tế của các bên đượng sự trong vụ tranh chấp cụ thể.
Các tranh chấp trên biển nói chung, Biển Đông nói riêng, có liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích trên biển của các quốc gia; bao gồm: Tranh chấp về chủ quyền đối với các đảo, phân định các vùng biển, sử dụng và bảo vệ môi trường biển... Vì vậy, pháp luật quốc tế đã chỉ rõ, việc giải quyết các tranh chấp quốc tế nói chung và các tranh chấp trên biển nói riêng phải tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các văn bản pháp lý quốc tế khác.
Với tư cách một quốc gia thành viên tích cực của Liên hợp quốc, Việt Nam luôn mong muốn và chủ trương kiên trì yêu cầu phía Trung Quốc hợp tác giải quyết các vấn đề về Biển Đông; trong đó, có vấn đề về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng phía Trung Quốc đều khước từ, lảng tránh, khi Việt Nam đề cập đến vấn đề này.
Đáng chú ý là, ngày 2-5-2014, Trung Quốc đã hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lực địa của Việt Nam. Trung Quốc còn sử dụng hàng trăm tàu các loại, trong đó có cả tàu chiến và máy bay hung hãn ngăn cản, cố tình đâm va vào các tàu thực thi pháp luật của Việt Nam và các tàu cá đang hoạt động đánh bắt bình thường trên vùng biển của Việt Nam, gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Không dừng lại ở đó, mới đây, Trung Quốc còn xuất bản lưu hành tấm bản đồ 10 đoạn nuốt trọn Biển Đông. Điều đó cho thấy mưu đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc là quá rõ.
Qua những phân tích trên cho thấy, Trung Quốc đã hành động ngang ngược, vi phạm trắng trợn các chuẩn mực pháp lý quốc tế và thách thức dư luận… Vì vậy, đã đến lúc Hội đồng Bảo an (Tổ chức cao nhất của Liên hợp quốc) phải thực hiện quyền lực "yêu cầu các bên đương sự giải quyết tranh chấp…"(Khoản 2, Điều 33, Hiến chương Liên hợp quốc) nhằm đảm bảo sự uy nghiêm của luật quốc tế và trật tự thế giới.
Hai là, khước từ yêu cầu đàm phán của Việt Nam về giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là thể hiện thái độ vô trách nhiệm, thiếu thiện chí của Trung Quốc.
Theo Hiến chương Liên hợp quốc (Điều 52): "Hội đồng Bảo an cần phải khuyến khích sự thúc đẩy việc giải quyết hòa bình các cuộc tranh chấp có tính chất khu vực, bằng cách sử dụng những thỏa thuận hoặc các tổ chức khu vực, hoặc theo sáng kiến của các quốc gia hữu quan, hoặc do Hội đồng Bảo an giao lại".
Khẳng định về nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình, một lần nữa Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 quy định (Điều 279): "Các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp xảy ra giữa họ về việc giải thích hay áp dụng Công ước bằng các phương pháp hòa bình theo đúng Điều 2, Khoản 3 của Hiến chương Liên hợp quốc và vì mục đích này, cần phải tìm ra giải pháp bằng các phương pháp đã được nêu ở Điều 33, Khoản 1 của Hiến chương".
Và, Điều 280: "Giải quyết các tranh chấp bằng bất kỳ phương pháp hòa bình nào do các bên lựa chọn; Không một quy định nào của phần này ảnh hưởng đến quyền của các quốc gia thành viên đi đến thỏa thuận giải quyết vào bất cứ lúc nào, bằng bất kỳ phương pháp hòa bình nào theo sự lựa chọn của mình một vụ tranh chấp xảy ra giữa họ và vấn đề giải thích hay áp dụng Công ước".
Rõ ràng, việc giải quyết các tranh chấp nói chung và các tranh chấp trên biển nói riêng phải tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế. Nguyên tắc "hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế" là nguyên tắc quan trọng nhất của Luật quốc tế hiện đại được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc và nhiều văn bản pháp lý quốc tế khác. Các thành viên Liên hợp quốc "giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng phương pháp hoà bình, làm thế nào khỏi nguy hại đến hòa bình và an ninh quốc tế cũng như đến công lý"(Khoản 4, Điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc).
Công ước nhấn mạnh, các bên tranh chấp có quyền lựa chọn bất kỳ phương pháp hòa bình nào (đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, thông qua các cơ quan hay tổ chức quốc tế khu vực hoặc bằng những biện pháp hòa bình khác) để giải quyết các tranh chấp về biển. Công ước cũng tạo không gian rộng mở cho các bên thỏa thuận, lựa chọn cách giải quyết sáng tạo, hợp lý các tranh chấp về biển.
Ngoài ra, Công ước còn có những điều, khoản dự liệu cách thức giải quyết nhằm tạo thuận lợi cho các bên nỗ lực giải quyết tranh chấp vào bất cứ lúc nào, bất kỳ phương pháp nào; đồng thời, các phương pháp giải quyết tranh chấp có mối quan hệ mật thiết với nhau, phương pháp này có thể là giai đoạn khởi đầu; hoặc là hệ quả của phương pháp khác. Tuỳ theo từng loại tranh chấp, thái độ thiện chí, quan điểm của các bên để lựa chọn các phương pháp giải quyết cho phù hợp, góp phần đảm bảo hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực cũng như trên phạm vi toàn thế giới.
Với tư cách một trong các bên đương sự đầy trách nhiệm, thiện chí, Việt Nam đã hơn 30 lần trao đổi với phía Trung Quốc và yêu cầu đàm phán giải quyết các vấn đề Biển Đông kể từ ngày 2-5-2014 đến nay. Tuy nhiên, đáp lại hành động trách nhiệm, thái độ thiện chí của Việt Nam là việc Trung Quốc đưa ra các cáo buộc "đổi trắng thay đen" và những yêu sách hết sức phi lý nhằm che đậy mưu đồ tham lam của họ.
Vì hòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển trong khu vực và trên toàn thế giới, một lần nữa Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc hợp tác với thái độ thiện chí, trách nhiệm và tuân thủ luật pháp quốc tế nhằm đi đến một giải pháp công bằng cho các vấn đề trên Biển Đông. Đặc biệt, Trung Quốc là một trong những quốc gia sáng lập ra tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh (Liên hợp quốc), thiết nghĩ, Trung Quốc không thể đơn phương hành động vượt ra ngoài khuôn khổ của chuẩn mức pháp lý quốc tế...
Mặt khác, Việt Nam cũng kêu gọi cộng đồng quốc tế và nhân loại tiến bộ bằng những nỗ lực của mình và bằng cả các biện pháp "có thể" để đi đến giải pháp công bằng và công lý, góp phần củng cố hòa bình, an ninh ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và trên toàn thế giới...
Có thể nói, luật pháp quốc tế (các chuẩn mực đạo đức, pháp lý) là sự kết tinh văn hóa của các thời đại và cống hiến không mệt mỏi của cả nhân loại nhằm bảo đảm các giá trị nhân phẩm, các quyền con người và sự bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc… Vì vậy, đã đến lúc không cho phép quốc gia nào trong cộng đồng quốc tế hành xử một cách vô trách nhiệm, thiếu thiện chí và chà đạp thô bạo các chuẩn mực đạo đức, pháp lý đó.







