Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 06:26 GMT+7

Nhân tố quyết định sức mạnh và chiến thắng của Quân đội ta

Biên phòng - Thực tiễn lịch sử 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định vai trò của cơ chế Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội - nhân tố quyết định sức mạnh và chiến thắng của quân đội ta trong chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.   

Nhìn lại lịch sử, cơ chế lãnh đạo của Đảng trong quân đội được Đảng "định hình" từ rất sớm, ngày càng bổ sung, phát triển, hoàn thiện. Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên (1930), Đảng sớm khẳng định phải nhanh chóng "Tổ chức ra quân đội công nông". Trong Nghị quyết đội tự vệ (1935), Đảng chỉ rõ: "Luôn luôn phải giữ quyền chỉ huy nghiêm ngặt của Đảng trong tự vệ thường trực"(1), "Các đội trưởng và đảng đại biểu phải hợp tác mà chỉ huy"(2). Trong lãnh đạo xây dựng, phát triển lực lượng cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, Đảng xác định phải làm cho các đội du kích đi đúng "con đường chính trị" của Đảng. Khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Đảng đã tổ chức chi bộ để thực hiện sự lãnh đạo mọi mặt đối với Đội (đồng chí Dương Mạc Thạch, tức Xích Thắng là Bí thư chi bộ của Đội).

bo-doi-1.JPG
Hải đoàn Biên phòng 28 xuất kích làm nhiệm vụ. Ảnh: Hoàng Anh

Trong giai đoạn đầu của kháng chiến chống Pháp xâm lược, quân đội ta có sự phát triển nhanh về lực lượng. Để giữ vững sự lãnh đạo, bảo đảm cho quân đội trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng, Đảng tiếp tục nghiên cứu xác lập, triển khai cơ chế lãnh đạo quân đội: Thành lập Trung ương Quân ủy (1-1946); thành lập các cấp ủy từ quân khu đến chi ủy; đặt chế độ hai thủ trưởng (quân sự, chính trị) để chỉ huy đơn vị từ cấp Khu đến trung đội; lập chế độ chính trị ủy viên đại diện Đảng phụ trách trong quân đội (10-1948). Từ thực tiễn tổ chức sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong kháng chiến, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II đã ban hành Nghị quyết số 07/NQ-TW (20-5-1952), về thực hiện chế độ tập thể Đảng ủy lãnh đạo toàn diện, thủ trưởng quân sự, thủ trưởng chính trị phân công thực hiện theo chức trách, nhằm thực hiện sự lãnh đạo tập thể, thống nhất của Đảng về mọi mặt công tác, bảo đảm vững chắc sự thi hành chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ; tăng cường sự lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị... mở rộng dân chủ nội bộ, phát triển phê bình, tự phê bình.

Hệ thống tổ chức Đảng trong quân đội đến đây được kiện toàn, hệ thống cơ quan chính trị và cán bộ chính trị được xây dựng từ trên xuống dưới đã đảm bảo sự lãnh đạo vững chắc tuyệt đối của Trung ương Đảng đối với quân đội; đồng thời, các đảng bộ địa phương đều có trách nhiệm lãnh đạo các lực lượng vũ trang địa phương, điều đó làm cho Đảng ta giữ vững được quyền lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang. Thực tiễn đã khẳng định chế độ Đảng ủy lãnh đạo, thủ trưởng phân công phụ trách là hoàn toàn đúng đắn. Trong hoàn cảnh kháng chiến khó khăn, khốc liệt, tư tưởng của bộ đội có lúc diễn biến phức tạp, song các cấp ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị hoàn thành được nhiệm vụ.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cơ chế đó đã phát huy được sức mạnh lãnh đạo của Đảng, phù hợp với tất cả các đơn vị, quân chủng, binh chủng trong mọi hoàn cảnh xây dựng và chiến đấu. Quá trình thực hiện, các đơn vị quân chủng, binh chủng, cơ quan, nhà trường... đều nhận thức đầy đủ và chấp hành nghiêm, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy được sức mạnh lãnh đạo của Đảng, đồng thời cũng phát huy đầy đủ trí tuệ, sự sáng tạo của thủ trưởng quân chính trong việc tổ chức thực hiện. Cơ chế lãnh đạo đó đã góp phần quyết định vào thắng lợi của quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; đồng thời đã trở thành truyền thống, kinh nghiệm quý báu của quân đội ta.

Đánh giá về cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, Tổng kết công tác Đảng, công tác chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam đã viết: "Thực tế xây dựng quân đội ta chứng tỏ chế độ Đảng ủy lãnh đạo, thủ trưởng phân công phụ trách là thích hợp nhất để quán triệt sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng trong quân đội. Chế độ đó thực hiện đúng nguyên tắc cơ bản là tập trung dân chủ, nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng là tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Nó tập trung quyền lãnh đạo vào tập thể, tập trung được trí tuệ của nhiều người làm cho sự lãnh đạo được toàn diện, sát quần chúng, sát thực tế. Nó kết hợp được chặt chẽ các mặt công tác của Đảng trong quân đội, bảo đảm vững chắc sự thống nhất tư tưởng và hành động... Nó phát huy được cao độ tính chủ động sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của cá nhân các thủ trưởng"(3). Hiệu lực từ cơ chế "tập thể Đảng ủy lãnh đạo toàn diện, thủ trưởng phân công phụ trách" đã phát huy tác dụng to lớn trong thực tiễn xây dựng lực lượng vũ trang, tiến hành chiến tranh cách mạng suốt một thời gian dài và đã đưa quân đội ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Từ năm 1975 đến nay, Đảng ta đã có ba lần đổi mới, bổ sung hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Trong những năm 1975 - 1982, quân đội ta vẫn thực hiện cơ chế lãnh đạo của Đảng như trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ngày 15-12-1982, Bộ Chính trị (khóa V) ra Nghị quyết số 07/NQ-TW "Về việc đổi mới, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, sự nghiệp quốc phòng và thực hiện chế độ một người chỉ huy trong quân đội". Sau hai năm thực hiện cơ chế 07, Đảng đã sớm phát hiện thấy một số khiếm khuyết, vì thế, ngày 4-7-1985, Bộ Chính trị (khóa V) đã ra Nghị quyết số 27/NQ-TW về việc "Tiếp tục kiện toàn cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và sự nghiệp quốc phòng". Nghị quyết nêu rõ: Qua một thời gian thực hiện, Bộ Chính trị xác định những vấn đề cơ bản để tiếp tục kiện toàn cơ chế lãnh đạo nhằm bảo đảm sự lãnh đạo vững chắc của Đảng trong mọi tình huống, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phát huy cao độ trách nhiệm của người chỉ huy và hiệu lực công tác Đảng, công tác chính trị, không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội.

Nghị quyết số 27/NQ-TW của Bộ Chính trị đã quyết định khôi phục lại hệ thống tổ chức Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Toàn quân có Đảng ủy Quân sự Trung ương do Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp lãnh đạo. Đảng ủy các cấp có trách nhiệm lãnh đạo toàn diện các đơn vị thuộc quyền, theo phạm vi chức năng và nội dung quy định cho từng cấp. Tổ chức cơ sở Đảng được thành lập ở trung đoàn và đơn vị tương đương; ở các tiểu đoàn và đại đội độc lập trực thuộc sư đoàn trở lên; ở các hệ, tiểu đoàn, đại đội học viên trong các học viện, trường sĩ quan; ở các bệnh viện, các xí nghiệp quốc phòng. Nghị quyết xác định rõ công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội là một bộ phận rất quan trọng của những hoạt động của Đảng nhằm lãnh đạo các lực lượng vũ trang trung thành vô hạn với Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, với nhân dân, với lý tưởng cách mạng của Đảng. Tiến hành công tác Đảng, công tác chính trị là một nguyên tắc trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng; quy định rõ về hệ thống tổ chức, nhiệm vụ của cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp trong quân đội.

Gần 20 năm thực hiện Nghị quyết số 27 của Bộ Chính trị khóa V (12/1985-7/2005) đã tạo chuyển biến tích cực về nhận thức tư tưởng và hành động trong toàn quân đối với nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Thông qua việc kiện toàn, củng cố hệ thống tổ chức Đảng các cấp đã làm cho nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt được giữ vững, quân đội hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tổ chức đảng các cấp trong toàn quân đã hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, thực sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị của các đơn vị.

Trước yêu cầu giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội trong thời kỳ mới, ngày 20-7-2005, Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 51/NQ-TW về việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Nghị quyết khẳng định: "Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng xây dựng quân đội, đặc biệt là nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa và của nhân dân, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

Nhằm đáp ứng yêu cầu đó, Bộ Chính trị quyết định tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam". Cơ chế đã xác định rõ những nội dung cơ bản để định hướng, chỉ đạo, tổ chức hoạt động lãnh đạo của tổ chức Đảng, hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, hoạt động của cán bộ chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị trong các đơn vị quân đội. Đó là: Đảng Cộng sản Việt Nam mà thường xuyên và trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Tổ chức Đảng trong quân đội được tổ chức theo hệ thống dọc từ cơ sở đến Đảng ủy Quân sự Trung ương nhằm bảo đảm cho Đảng nắm chắc quân đội về mọi mặt, trong mọi tình huống, phát huy được trí tuệ tập thể. Toàn quân có Đảng ủy Quân sự Trung ương do Bộ Chính trị chỉ định gồm một số ủy viên Ban Chấp hành Trung ương công tác trong và ngoài quân đội. Cấp ủy các cấp do dân chủ bầu ra, tiêu biểu cho trí tuệ và sức mạnh tập thể của tổ chức Đảng; có trách nhiệm lãnh đạo về mọi mặt đơn vị theo phạm vi, chức năng và nội dung cho từng cấp.

Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng trong quân đội hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân theo chức trách, nhiệm vụ. Mọi vấn đề thuộc về đường lối, chủ trương, biện pháp xây dựng và hoạt động của Đảng, của quân đội đều phải do tập thể các cơ quan lãnh đạo hoặc tổ chức Đảng dân chủ bàn bạc và quyết định theo đa số. Trên cơ sở các nghị quyết, chủ trương lãnh đạo của cấp ủy, cá nhân các cán bộ, đảng viên theo nhiệm vụ, chức trách được phân công phải cụ thể hóa thành mệnh lệnh, chỉ thị, kế hoạch của mình, điều hành đơn vị thực hiện và chịu trách nhiệm trước cấp ủy cấp mình và cấp trên, không được tự ý quyết định những vấn đề thuộc về chức năng, quyền hạn của tập thể các cơ quan lãnh đạo và tổ chức Đảng. Từ cấp cơ sở (trung đoàn và tương đương) đến toàn quân đều tổ chức cơ quan chính trị để đảm nhiệm công tác Đảng, công tác chính trị. Tổng cục Chính trị đảm nhiệm công tác Đảng, công tác chính trị trong toàn quân, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Ban Bí thư và trực tiếp, thường xuyên là Đảng ủy Quân sự Trung ương. Cơ quan chính trị các cấp hoạt động dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cấp ủy, cơ quan chính trị, chính ủy cấp trên; trực tiếp của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo, hướng dẫn của chính ủy cùng cấp.

Trên cơ sở bảo đảm sự lãnh đạo vững chắc, xuyên suốt của các tổ chức Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn bó chặt chẽ với chế độ chính ủy, chính trị viên; người chỉ huy có trách nhiệm chấp hành và tổ chức thực hiện nghiêm túc chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên và nghị quyết của cấp ủy cấp mình về toàn bộ hoạt động quân sự của đơn vị. Chính ủy (chính trị viên) và người chỉ huy được Đảng, Nhà nước, quân đội giao cho những quyền hạn trong phạm vi chức trách và chịu trách nhiệm trước pháp luật, cấp ủy, người chỉ huy, cơ quan chính trị, chính ủy, chính trị viên cấp trên và cấp ủy cấp mình về toàn bộ hoạt động của đơn vị theo phạm vi, chức trách, nhiệm vụ.

Quan hệ giữa chính ủy, chính trị viên với người chỉ huy được Bộ Chính trị chỉ rõ là mối quan hệ phối hợp công tác, do đó chính ủy (chính trị viên) và người chỉ huy phải thường xuyên quan hệ chặt chẽ với nhau trên tinh thần đoàn kết, thống nhất, tin cậy, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau trong thực hiện nhiệm vụ; kịp thời thông báo và trao đổi cho nhau biết các nghị quyết, chỉ thị mệnh lệnh của cấp trên, thống nhất đánh giá tình hình, đề xuất chủ trương, biện pháp lãnh đạo, báo cáo cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy quyết định; xây dựng kế hoạch, phân công tổ chức thực hiện nghị quyết và kiểm tra các tổ chức Đảng cơ quan, đơn vị thực hiện, cùng chăm lo xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện...

Từ thực tiễn những lần đổi mới, bổ sung hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng trong 70 năm qua cho thấy: Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; nâng cao hiệu lực công tác Đảng, công tác chính trị, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị phải thường xuyên nghiên cứu, đổi mới, bổ sung hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội phù hợp với tình hình nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của quân đội.

Đổi mới, bổ sung, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị phải bảo đảm nguyên tắc quan trọng hàng đầu là không ngừng giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội trong mọi tình huống, bảo đảm cho quân đội giữ vững bản chất cách mạng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Quá trình lãnh đạo triển khai thực hiện cơ chế, Đảng phải kịp thời phát hiện những vấn đề khiếm khuyết, nảy sinh; bổ sung, phát triển, hoàn thiện cơ chế. Tăng cường hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn dân nhất trí với các quan điểm, nguyên tắc, nội dung của cơ chế lãnh đạo, đồng thời luật hoá cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm tăng hiệu lực, hiệu quả của cơ chế đối với hoạt động quân sự - quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tập 5, trang 95.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, trang 95.
(3) Tổng cục Chính trị, Tổng kết công tác Đảng, công tác chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam 1960, trang 102.
(4) Tổng cục Chính trị, Tài liệu học tập quán triệt Nghị quyết 51 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb QĐND, Hà Nội, 2005, trang 10.

Đại tá Chế Đình Quang
(Học viện Chính trị - Quân sự)

Bình luận

ZALO