Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 12:26 GMT+7

Nhật Bản không "mua láng giềng gần"

Nhật Bản không "mua láng giềng gần"

Biên phòng - Thủ tướng Nhật Bản Sin-dô A-bê đã đến thăm ngôi đền Y-a-xư-cư-ni gây nhiều tranh cãi, trái với sự thận trọng mà ông đã tránh khi làm Thủ tướng năm 2006-2007 vì không muốn đẩy quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc và Trung Quốc vào tình trạng "đóng băng".

52b-1.jpg
Chuyến thăm đền Y-a-xư-cư-ni của Thủ tướng A-bê vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ Trung Quốc và Hàn Quốc. Ảnh: AFP
Nay, các nước láng giềng nhìn nhận việc lãnh đạo Nhật Bản đến thăm đền Y-a-xư-cư-ni không chỉ đơn thuần là tôn vinh quá khứ, mà còn là dấu hiệu của những điều chỉnh về chính sách đối ngoại theo hướng cứng rắn và mạnh mẽ hơn. Mối quan ngại này không phải không có căn cứ, vì ngay từ khi Thủ tướng A-bê lên cầm quyền cuối năm 2012 đã tìm cách sửa đổi Hiến pháp hòa bình và tăng chi cho kế hoạch hiện đại hóa quân đội. Rõ ràng, Tô-ki-ô đang điều chỉnh chính sách đối ngoại và chiến lược an ninh - quốc phòng nhằm giành lấy vị thế cường quốc không chỉ trên lĩnh vực kinh tế, mà còn cả sự ảnh hưởng trong khu vực Đông Bắc Á.

Trước đó không lâu, Bộ Quốc phòng Nhật Bản đã công bố Hướng dẫn Chương trình Quốc phòng (NDPG), tuyên bố mục đích của Nhật Bản trong hợp tác an ninh là nhằm "xoa dịu bầu không khí đối đầu và nghi kị lẫn nhau trong khu vực". Các biện pháp đó bao gồm "hợp tác chặt chẽ hơn với Hàn Quốc" và thúc đẩy "đối thoại và trao đổi an ninh với Trung Quốc để củng cố những nỗ lực gây dựng lòng tin nhằm ngăn chặn các tình huống bất ngờ". Tuy nhiên, chuyến thăm đền mới nhất và cũng là lần đầu tiên của ông A-bê trên cương vị Thủ tướng, người ta đã nói nhiều về lập trường thiên hữu của ông A-bê, như ý định tái lập Hiến pháp phủ nhận chiến tranh của Nhật Bản và thái độ ngày càng kiên quyết hơn với các nước láng giềng.

Tất cả động thái này không cho thấy sự chuyển đổi đáng kể của Nhật Bản theo hướng "quân phiệt hóa", song nó phát đi một thông điệp răn đe mạnh mẽ trong bối cảnh môi trường an ninh căng thẳng tại Đông Bắc Á.

Sở dĩ Nhật Bản phải phát đi một thông điệp răn đe mạnh mẽ như vậy là muốn kiềm chế một Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ và bù vào "khoảng trống" của đồng minh Mỹ vì suy thoái kinh tế nên chính sách đối ngoại bị khủng hoảng và sức mạnh quốc gia cũng bị suy yếu theo. Tận dụng sự thoái trào của Mỹ, Trung Quốc đã đẩy mạnh cái gọi là chiến lược "hất cẳng" Mỹ khỏi Đông Á và Tây Thái Bình Dương. Bắc Kinh đã tăng cường sức ảnh hưởng đối với những nơi mà ít có hoặc không có sự hiện diện của Oa-sinh-tơn (hay còn gọi là "khoảng trống quyền lực".

Theo các nhà phân tích, trong bối cảnh có những biến động về an ninh như hiện nay, vai trò của Nhật Bản trước tiên là không thể và không để tạo ra "khoảng trống quyền lực" có lợi cho Trung Quốc ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Do vậy, tổng quan chiến lược quốc phòng từ năm 2014 và chiến lược an ninh quốc gia công bố vào tháng 12-2013 của Nhật Bản là chiến lược kiềm chế Trung Quốc.

Quan hệ giữa hai nền kinh tế lớn thứ hai và thứ ba thế giới này trong thời kỳ ông A-bê nắm quyền sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều thử thách. Tuy tăng cường sức mạnh quân sự với mục tiêu chủ yếu nhằm vào Trung Quốc, song Tô-ki-ô cũng không từ bỏ cách tiếp cận "quan hệ chiến lược cùng có lợi". Chẳng hạn trong vấn đề ở biển Hoa Đông, Nhật Bản kiên định lập trường của mình, nhưng cũng đề xuất đàm phán về cơ chế quản lý khủng hoảng tại vùng biển và không phận liên quan. Quan điểm của Thủ tướng A-bê là "Nhật Bản và Trung Quốc có mối quan hệ không thể tách rời, đặc biệt về kinh tế và sẽ là sai lầm nếu đóng cửa mọi lĩnh vực trong quan hệ song phương chỉ vì một vấn đề duy nhất là tranh chấp chủ quyền. Đó là lý do tại sao Nhật Bản luôn để ngỏ cửa cho đối thoại".

Trong mối quan hệ tay ba ở Đông Bắc Á, người ta dễ nhận ra rằng, Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn là đối tác trên nhiều lĩnh vực. Cả hai đều là đồng minh chiến lược của Mỹ và phát triển theo mô hình xã hội dân chủ với kinh tế thị trường tự do. Hơn thế nữa, Hàn Quốc và Nhật Bản có chung mối quan ngại về Triều Tiên cũng như sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tuy nhiên, dù có thể là đối tác, thậm chí là đồng minh với Nhật Bản trên nhiều lĩnh vực, nhưng Hàn Quốc không thể không hoài nghi về chính sách của đất nước Mặt trời mọc từng cai trị họ trong quá khứ. Vì vậy, chuyến viếng thăm đền Y-a-xư-cư-ni của Thủ tướng A-bê ngày 26-12-2013, là minh chứng cụ thể nhất cho chính sách của Nhật Bản. Người dân Hàn Quốc chưa thể quên quãng thời gian bị Nhật Bản chiếm đóng với những ký ức đau buồn. Giờ đây, câu chuyện về quá khứ được nhắc đến nhiều hơn trong đời sống người dân xứ sở Kim chi, nhất là khi Tổng thống Pắc Cưn Hê xác định trọng tâm chính sách đối ngoại là cải thiện quan hệ mọi mặt với Trung Quốc, dù Bắc Kinh vẫn là đồng minh thân cận của Bình Nhưỡng.
52a-1.jpg
Căng thẳng do tranh chấp chủ quyền trên biển Hoa Đông khiến Nhật Bản phải tăng cường sức mạnh quân sự. Ảnh: Internet

Đối với nước láng giềng xa ở phương Bắc, Nhật Bản chủ trương phát triển quan hệ tốt đẹp với Nga và đó cũng là lý do giải thích cho sự yên ả trên chuỗi đảo tranh chấp mà Tô-ki-ô gọi là "vùng lãnh thổ phương Bắc", còn Mát-xcơ-va vẫn gọi là "quần đảo Nam Cu-rin". Nhật Bản có nhiều lý do để phát triển mối quan hệ này. Trận động đất - sóng thần gây ra cuộc khủng hoảng hạt nhân năm 2011 đã đánh dấu một bước ngoặt về sự cần thiết phải tìm ra các nguồn năng lượng thay thế. Hơn nữa, sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Đông Bắc Á và mối quan hệ xấu đi giữa Trung Quốc và Nhật Bản, đặc biệt, việc Bắc Kinh đòi chủ quyền đối với quần đảo Điếu Ngư/Xen-ca-cư cũng là những lý do thúc đẩy Tô-ki-ô đi theo chiều hướng này. Trong cuộc gặp tháng 4-2013, hai nhà lãnh đạo Nga và Nhật Bản đã nhất trí đẩy mạnh các cuộc thương lượng nhằm ký một Hiệp ước hòa bình, với hy vọng sẽ giải quyết được cuộc tranh chấp vùng lãnh thổ phía Bắc của Nhật Bản. Tuy nhiên, như một chuyên gia của Nga về Nhật Bản, ông Va-lê-ri Ki-xta-nốp nhận định, vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với "vùng lãnh thổ phương Bắc" hoặc "quần đảo Nam Cu-rin" luôn rất nhạy cảm đối với Nhật Bản và Nga, vì vậy, khả năng ký được Hiệp ước hòa bình là "không dễ dàng", do mỗi bên vẫn theo đuổi những lợi ích riêng của mình. Bất kỳ nhà lãnh đạo nào của Nhật Bản nếu nói đến việc sẵn sàng nhượng bộ vấn đề này với Nga, tức là từ bỏ việc đòi chủ quyền đối với các hòn đảo này để ký kết một Hiệp ước hòa bình, sẽ ngay lập tức đánh mất lòng dân, đồng nghĩa với việc sẽ sớm chấm hết sự nghiệp chính trị của mình.

Như vậy, những chính sách đối với các nước láng giềng dù cứng rắn hay mềm dẻo đều có "hai mặt" của nó. Nếu cứ theo đuổi cách tiếp cận "không cần láng giềng gần", Nhật Bản có nguy cơ sẽ bị cô lập về mặt ngoại giao ở Đông Bắc Á và thực tế này cũng đang làm đau đầu giới hoạch định chính sách ở Tô-ki-ô.
Trà My

Bình luận

ZALO