Biên phòng - Làng tôi là một trong những làng cổ của Đại Việt. Chỉ riêng cái tên Chèm rất nôm đã ghi nhận sự tồn tại hàng nghìn năm của ngôi làng nhỏ bé, xinh xinh này. Trước ngực làng có con sông Cái mùa nước cạn hay mùa nước lên khi nhạt khi thẫm vẫn giữ nguyên một màu phù sa thao thao màu của ráng chiều ngày đẹp trời đỏ rực phía đầu nguồn. Phải chăng vì thế nên tên chữ của sông còn được gọi là Hồng Hà. Con sông mẹ mênh mông, dài rộng là thế, vậy mà cách thời ta sống đây chừng dư thế kỷ rưỡi, cha ông ta lại cho đào thêm con sông nữa ở nách làng tôi. Thoạt kì thủy tên con sông này lấy việc sinh ra sông mà gọi thành tên. Ấy là sông Đào. Sau này tên chữ mới là Nhuệ Giang. Thấy bảo sông Đào sinh ra để giữ mực nước sông Cái lúc cạn, lúc lũ. Người Pháp thủa cai trị xứ ta cho xây một công trình thủy lợi ở nơi hai dòng sông gặp nhau để làm một việc tối quan trọng giữ bình an cho làng xóm, ruộng đồng quê tôi tránh khỏi lũ khi nước sông lên, hạn hán khi nước sông cạn. Ấy là điều hoà con nước cho sông Đào nơi thượng lưu và sông Cái đoạn trung lưu. Người làng Chèm tôi gọi nôm công trình này là Cầu Sông. Thời ta thấy gọi là công trình trung thủy nông Thuỵ Phương (ấy là tên chữ của làng tôi) gì gì ấy.
![]() |
| Minh họa: Lê Gia. |
Ngẫm lại làng Chèm tôi thật may mắn để tạo nên niềm kiêu hãnh. Không ít làng ở xứ ta ao ước ngàn đời có con lạch, con sông chảy qua cho phong thủy vượng. Vậy mà làng tôi có tới hai dòng sông trước ngực, bên sườn ôm ấp, chở che. Các vị cao niên ở làng còn bảo. Ngay dưới bệ của Thành hoàng làng tức danh nhân Lý Ông Trọng được phong Đức Thượng Đẳng Thiên vương và Phu nhân của ngài là Bạch Cung Tĩnh Vương có mạch nước thông liền với sông Cái. Phải chăng vì ân trạch, âm đức, sự phù hộ của nhị vị cùng vượng khí của hai con sông nên làng tôi mới có sự phong đăng hoà cốc, ăn ở thuận hoà, người trong làng yêu thương, vì nể nhau... Trên đồng cạn, dưới đồng sâu, chồng cày vợ cấy. Hạt lúa, củ khoai, bắp ngô của hai vụ lúa thời xưa, ba, bốn vụ lúa, vụ đông thời nay cũng vì đó mà xanh tươi, chắc mẩy chăng. Cũng bởi hai dòng sông, sự làm ăn của làng cũng theo đó mà phát đạt, giao thương với đủ thứ vùng trong xứ.
Thời trước, năm Ất Dậu 1945, cửa hàng nước mắm ở Bến Ngự của bà ngoại tôi chạy dài đến chín gian nhà ngói. Một bể chứa hàng ba, bốn ngàn gánh nước để đón thuyền chum, thuyền vại từ xứ Thanh, Nghệ chở chượp, cái mắm nương gió nồm Nam ra bán ở kinh thành Thăng Long. Gỗ lạt, tre, nứa, vầu, củ nâu, lá cọ, lá dong... toàn sản vật trên rừng, từ mạn ngược ngàn ngạt cũng theo con nước về đậu kín khúc sông trước làng tôi. Đến thời tôi cắp sách đi học, bố tôi từ chiến khu về mang theo cây kèn Ác-mô-ni-ca thổi vang bản nhạc Sông Lô nơi bến sông. Bố mẹ tôi dựng nếp nhà gianh, xây tạm chiếc bể chứa nước ăn trên nền đất chín gian nhà ngói đã bị Tây đốt sạch. Không có mái ngói hứng nước mưa, mẹ tôi gánh nước sông Hồng đánh phèn cho trong để ăn. Nhiều lần khát nước, sau những buổi đá bóng bưởi về, tôi vục gáo vào múc nước uống cho thoả cơn khát. Phù sa đọng ngấn dưới cằm. Bố tôi nhắc khéo đau bụng. Mẹ tôi cười bảo: “Nước sông Cái lành lắm. Bố nó khỏi lo. Con người ta sống vì đất, vì nước. Nay, đất hoà tan trong nước thì còn gì bằng!”.
Vậy mà bây giờ, mỗi lần về làng cứ thấy buồn buồn. Nhìn gảnh đình một thủa. Cái gảnh đình từng nổi tiếng đi vào lịch sử nước ta khi chứng kiến bảy người con yêu quí của làng Chèm bị bắn để giữ an cho chính quyền non trẻ thời 1945. Nơi mà hồi còn nhỏ, mỗi bận giông bão sắp đến, tôi chạy ào ra, ngồi ngẩn ngơ nhìn mây vần vũ trên trời, những nếp sóng đỏ rực đôi hồi, cuồn cuộn xô nhau dưới mặt nước. Gảnh đình đó giờ đây chỉ còn bờ đá đang chìm dần xuống sông. Vẫn biết chòm chèm hơn nửa thế kỷ đi qua rồi. Đứa trẻ con nghịch ngợm bạt mạng một thời luôn mở to con mắt để truy tìm sự huyền bí của những lớp sóng sông vì đâu mà cứ tháng ngày không biết mệt mỏi để chuyển hàng nghìn vạn tấn phù sa về bồi đắp cho đồng ruộng hai bên bờ sông, nhấn chìm đi tất cả mọi bọt bèo rác rưởi, thô lậu. Vào khi chơm chớm lớn lên mang trong mình đủ hoài bão vào đời nay đã là ông già hói ít nhiều nhận ra đôi chút lẽ đời để hiểu rằng, sông Cái là sự hiển hiện của tình mẹ. Hai sương một nắng, không quản ngại đường xa mang sự no đủ, phì nhiêu cho sự sống con người. Dân đâu chỉ làng tôi mà cả rẻo đôi bờ sông lớn lên từ phù sa, bãi cát, giọt nước sông Mẹ, sông Đào.
Hai con sông quê tôi hào phóng cho lúa, ngô, kê, đậu. Cho cá ăn, cho nước uống. Sông Đào, sông Cái cũng quằn mình không chỉ chở phù sa cho sự tươi tốt của ruộng, vườn mà trên lưng sông còn chở cả những con thuyền đi từ vùng này qua vùng khác, giao thương, trao đổi. Cho thức ăn, cho nước uống, cho hàng triệu triệu dân. Sông còn làm bầu vú căng tròn, nơi chảy ra cuồn cuộn nguồn cảm hứng cho thi, ca, nhạc, họa... cho những người cầm bút, cầm đàn, cầm cây cọ có giây phút nhập đồng trong những ban mai, những chiều sương cất lên khúc hát: “Hồng Hà ơi, ta nhớ mùa thu xưa nước về...”. Rồi: “Quê hương tôi bên dòng sông Nhuệ nương dâu, bãi lúa... chăn tằm...”.
Chao ôi, câu hát quá vãng một thời đang văng vẳng bên tai, đang xáo trộn trong tim mà thấy lòng dạ sao chếnh choáng với những nuối tiếc, ước ao, những trách móc... Người ơi, sao nỡ ăn xổi ở thì làm hai dòng sông thân yêu cứ ngày ngày lại mọc tấy lên những vết thương trong lòng, trên bờ sông, trong lòng người. Bãi dâu xanh mướt đã mãi mãi chẳng còn. Đến ngọn rau muống bè trên sông Nhuệ cũng héo xơ, vàng úa vì dòng sông trong xanh in hình cô gái hái dâu tằm nay đen kịt, bốc mùi xú uế. Ngày ngày sông Cái vặn mình đau đớn bởi đám người vô tình, vô cảm moi cát lòng sông. Mặt sông Cái nhăn nhúm đổi màu, những con sóng cũng mệt nhoài vì đủ thứ nước độc, nước bẩn chảy vào sông khiến con cá lăng, cá anh vũ tiến vua một thời cũng không sống nổi. Cá chiên, cá ngạnh, cá chép... hay về đẻ trứng hũm vực bến Chèm cũng vắng bóng, thưa thớt dần...
Cũng ít nhiều may mắn trong cuộc đời ngắn tựa bóng câu, tôi đã có dịp chạm chân đến bờ dòng Von-ga, dòng sông Sen, sông Hàn, sông Đa-nuýp... Nghe tiếng hát “Đôi bờ” lãng đãng, khúc “Đa-nuýp xanh” dìu dặt, bồi hồi thấy những dòng sông ấy vẫn trong xanh, đẹp đẽ như câu hát ngàn xưa của xứ người...
Lại một mùa xuân nữa. Mùa của ước mơ, của hi vọng lại về.
Đã quá lục thập niêntrôi qua, chiều nay ngồi bần thần trên gảnh đình làng, soi vầng trán hói già nua xuống mặt sông thân yêu. Tôi chắp tay nguyện cầu. Nguyện cầu con sông Đào, sông Cái lại bình yên, thanh thản, trong xanh như một thời sinh sôi và khát vọng...







