Biên phòng - Tháng 5/1972, tỉnh Quảng Trị được giải phóng cũng là lúc 600 giáo viên thuộc 17 tỉnh, thành phố phía Bắc hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và cách mạng miền Nam tình nguyện vào Quảng Trị, chung tay cùng đồng nghiệp và nhân dân nơi đây dựng lán dạy học… 50 năm đã trôi qua, những chiến sĩ trên mặt trận giáo dục vào Quảng Trị ngày ấy kẻ còn, người mất nhưng kí ức về những ngày gieo mầm chữ trên miệng hố bom vẫn vừa như mới hôm qua!
Dạy học bên hố bom
Năm 1973, thầy giáo trẻ Ngô Đức Quyền (xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình) viết đơn tình nguyện lên đường đi B vào chiến trường Quảng Trị. Chuyến xe đưa đoàn giáo viên vào thành phố Đông Hà (lúc bấy giờ là thị xã), từ đó, mỗi người được phân về các vùng nhận nhiệm vụ. Thầy Quyền theo chân giao liên về xã Trung Giang (huyện Gio Linh). Mảnh đất Trung Giang ngày đó là điểm cuối của hàng rào điện tử McNamara, phía Nam sông Bến Hải, đối diện bên kia sông là bến đò B - nơi từng được mệnh danh là cửa tử, luôn bị bom Mỹ dội dập. Đường về Trung Giang lúc đó đều phải theo lối đi đã đánh dấu của giao liên theo những đồi cát, chỉ chệch một bước là đối mặt với đạn bom vùi chực chờ phát nổ. Ngày đó, dân di tản vừa bắt đầu trở về nên nhà cửa thưa thớt, tạm bợ.
“Điểm trường xã lúc đó cũng đã có hai đồng nghiệp đi B vào năm trước. Vậy là cùng với bà con, anh em chúng tôi chung tay dựng lán để dạy học. Tranh tre nứa lá lúc đó chủ yếu được bà con Thanh Hóa viện trợ vào. Làm việc cật lực, cuối cùng, 5 phòng học cũng được dựng lên trên đồi cát thôn Cang Gián. Tôi bắt đầu những chuyến đi vận động bà con cho con em đến trường. Ngày dạy chữ cho con em trong độ tuổi đến trường, đêm thì các giáo viên đi các thôn khác để dạy xóa mù chữ. Ánh sáng lớp học chỉ là ngọn đèn dầu leo lét nhưng tinh thần học thì rất cao. Đó cũng là động lực để người đứng lớp như tôi bám lại với trường lớp trong hoàn cảnh muôn vàn khó khăn lúc ấy” - thầy Quyền chia sẻ.
Đoàn giáo viên đi B vào chiến trường Quảng Trị những năm ấy, có không ít giáo viên nữ. Cô Nguyễn Thị Yên, nguyên giáo viên từng nhận nhiệm vụ dạy học ở xã Triệu Thuận (huyện Triệu Phong) rưng rưng kể: “Ngày rời Hà Nội đến Quảng Trị, ngoài nhiệt huyết thanh xuân, những người trẻ như chúng rôi không thể nào hình dung được những khó khăn mà mảnh đất bên bờ vĩ tuyến này phải gánh chịu. Hai từ “khốc liệt” không thể diễn tả hết tình cảnh lúc bấy giờ. Nhận nhiệm vụ ở Triệu Thuận hôm trước thì hôm sau tôi cùng đồng nghiệp và chính quyền địa phương bắt tay ngay vào dựng trường lớp. Những lớp học dựng tạm toàn bằng tre, nứa, lá và những thanh ray cũ kỹ”.
Đến tận hôm nay, cô Yên vẫn nhớ như in cảm giác của những đêm cầm con cúi rơm, băng qua những cánh đồng vắng, một mình đi dạy xóa mù. Thương cô giáo, mến chất giọng ấm áp của cô, những ngư dân chài lưới không còn ngăn cản con em đến lớp mà ngay cả bản thân họ cũng tình nguyện đi học xóa mù chữ. Cô Yên bảo, trong cuộc đời đi dạy học của mình, không gì vất vả và cũng không gì hạnh phúc bằng 5 năm ở Triệu Thuận. Ở đó, lần đầu tiên, một thanh nữ đất Hà Thành hết giờ lên lớp lại xắn quần lội bùn cùng bà con đi cấy lúa.
Rưng rưng ngày về
Sau ngày đất nước thống nhất, năm 1978, những “chiến sĩ” đi B ấy lần lượt trở về quê hương tiếp tục sự nghiệp dạy học, thế nhưng kí ức ở Quảng Trị thì không thể nào quên. Điều đó thôi thúc các thầy cô tìm đến nhau và thành lập Ban liên lạc Hội cựu giáo chức đi B Quảng Trị, hễ có dịp lại cùng nhau về thăm “chiến trường xưa”. Ngày trở lại, những chiến sĩ gieo chữ năm xưa giờ tóc đã ngả màu tiêu muối, mỗi người một hoàn cảnh nhưng có chung niềm xúc động rưng rưng. Họ ôm chầm lấy nhau, tìm về tận từng nhà dân, ôn lại từng kỉ niệm của mấy mươi năm về trước - nơi họ đến để cống hiến bằng cả thanh xuân tươi trẻ của đời người.
“Không thể kể hết những khó khăn ngày ấy. Hạnh phúc của chúng tôi là được trở lại để chứng kiến giáo dục ở bên bờ vĩ tuyến đổi thay, gặp lại những học trò ngày ấy thành đạt” - thầy Ngô Đức Quyền nói.
Còn thầy Đinh Hữu Hưng, giáo viên được phân về với vùng núi Đakrông không giấu được xúc động khi kể lại: “Vùng đất chiến khu Ba Lòng ngày tôi đặt chân đến chỉ rặt hố bom và cây rừng. Một cuộc sống khó khăn ngay trong cả hình dung tôi cũng chưa từng tưởng tượng ra. Thế nhưng, mọi thứ dần trở nên quen thuộc khi tôi cùng ăn, cùng ở và dạy học cho người dân. Hôm mới đến cũng hơi chùng lòng trước điệp trùng núi rừng.
Nhưng bà con rất thật và chung tay cùng anh em giáo viên chặt tre, nứa rừng dựng lán để con em học chữ. Củ sắn, mớ rau rừng họ hái được trên nương cũng đem đến chia sẻ với mình. Xúc động nhất là kì nghỉ hè, thầy vác ba lô lên vai là trò khóc, cứ sợ thầy không trở lại. Thấy bà con khóc, mình cũng không cầm lòng được mà khóc theo. Điều quý nhất ở mảnh đất này là tình người. Mấy chục năm trôi qua rồi nhưng bà con vẫn đón tôi nồng hậu như người thân đi xa trở về, xúc động lắm”.
Chia sẻ cảm xúc ngày trở lại, cô Nguyễn Thị Yên rưng rưng tâm sự: “Có những đồng đội đã nằm lại nơi này, có người bị thương vì bom đạn, cũng có người bị nhiễm chất độc da cam ra đi sớm để lại những đứa con không có khả năng làm người bình thường. Nhiều người khác trở về không có mái ấm trọn vẹn và cả những đồng đội không có mái ấm cho riêng mình. Nhưng không ai trong chúng tôi cảm thấy tiếc nuối về quãng thời gian vượt sông Bến Hải, “gùi” chữ vào chiến trường ngày đó. Nghề giáo không gì hạnh phúc bằng được nhìn thấy học trò của mình trưởng thành. Trong số ấy, nhiều học trò lại tiếp nối trở thành những thầy, cô giáo để tiếp tục ươm lên mầm chữ” - cô Yên bộc bạch.
Trong buổi đón tiếp đoàn Hội cựu giáo chức đi B Quảng Trị, Tiến sĩ Lê Thị Hương, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị cho biết, sau ngày giải phóng Quảng Trị, một trong những nhiệm vụ hệ trọng của chính quyền cách mạng là chăm lo sự nghiệp trồng người trên vùng đất mới giải phóng, phát triển quy mô và mạng lưới trường lớp, xóa nạn mù chữ và bổ túc văn hóa cho các tầng lớp nhân dân.
Từ năm 1972, hàng ngàn cán bộ, giáo viên, sinh viên thuộc 17 tỉnh, thành phố miền Bắc đã tình nguyện xung phong “gùi” chữ vào chiến trường miền Nam. Riêng Quảng Trị đón 600 giáo viên, cùng với các giáo viên tại địa phương để phát triển sự nghiệp giáo dục. Sự cống hiến và hi sinh của các thế hệ giáo viên đi B vào miền đất lửa Quảng Trị ngày ấy đã góp phần viết nên bản anh hùng ca cho sự nghiệp giáo dục cách mạng của Quảng Trị nói riêng và cả nước nói chung. Chính quyền và nhân dân chưa khi nào quên công lao của các thầy cô năm ấy.
Trúc Hà - Yên Vĩnh







