Biên phòng - Là điểm sáng của "đường mòn trên biển" huyền thoại, bến Vàm Lũng - Cà Mau vinh dự đón con tàu chở vũ khí đầu tiên cập bến an toàn, mở thông con đường vận tải chiến lược trên Biển Đông. Chúng tôi đã gặp được những người mẹ, người chị nơi bến bờ ấm áp, bình yên, thấm đẫm nghĩa tình năm ấy. Nhưng sự bình yên cho các bến tiếp nhận, vũ khí đến được các đơn vị chiến đấu an toàn đâu chỉ đổi bằng mồ hôi, nước mắt, mà còn xương máu của nhân dân - trong đó có những người phụ nữ phải hy sinh cả hạnh phúc làm mẹ.
Chị Nguyễn Kim Hoa, quê ở xã Viên An, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau tham gia công tác hậu cần, thư ký đánh máy đã bám đơn vị cho đến ngày hòa bình. Lúc mang thai và sinh nở, người mẹ này phải đối mặt với muôn vàn hiểm nguy, bấc trắc. Chị Hoa kể về cuộc vượt cạn trắc trở của mình, trong căn cứ giữa rừng ngập mặn: "Lúc đầu, khi mới tham gia công tác, chúng tôi được kêu gọi "ba khoan", tức là " khoan yêu", "khoan cưới", mà lỡ cưới rồi thì… "khoan có con". Ý thức được tham gia một công tác bí mật, gian khổ, những người tuổi trẻ chúng tôi thực hiện lời khuyên của lãnh đạo rất nghiêm túc. Nhưng cuộc cách mạng lâu dài và cuộc sống vẫn phải diễn ra theo quy luật của nó. Rốt cuộc, các thủ trưởng lại lo lắng chúng tôi "ế chồng", tìm cách mai mối, xây dựng hạnh phúc cho chúng tôi. Trong rừng, việc sinh con rất vất vả. Trạm quân y chỉ làm nhiệm vụ cứu chữa, chăm sóc thương binh, không có chuyên khoa sản. Vì lẽ đó, những ca sinh khó thật nan giải.
| |
| Chị Nguyễn Thị Kim Hoa (bên trái) cùng tác giả. |
Sinh con trong rừng đã khó, nhưng nuôi con trong rừng ngập mặn cũng là bài toán nan giải cho các chị. Do phải phụ thuộc vào sự may rủi, lớn ròng của những con nước, những trận càn, những đợt ném bom, rải chất độc hóa học của địch cũng như để giữ bí mật cho các bến, những bà mẹ trong những cơ quan đặc biệt bí mật này không thể gởi con về cho người thân nuôi dưỡng. Hồi đó, ở Bến Vàm Lũng có dì Đoàn Ngọc Diệp - từng là chiến sĩ binh vận, chuyển sang công tác hậu cần, quân trang. Vì thương chồng, dì từ Thạnh Phú, Bến Tre vượt sông Hàm Luông, đi dọc theo các cửa sông, luồn rừng ngủ bụi mà tìm đến bến Vàm Lũng, đoàn tụ với chồng - một cán bộ cơ yếu của Đoàn 962. Dì chọn một vai trò khiêm nhường bên bộ phận quân trang để chồng yên tâm công tác. Trong rừng, dì đã sinh thêm hai đứa con và đặt tên con là Đước, Dẹt…
Đoàn công tác chúng tôi tìm về tận xã Bình Hòa, Giồng Trôm, Bến Tre, lắng nghe những dòng tâm sự của dì Diệp: "Ở rừng, mở mắt ra là đước, dẹt. Đước, dẹt che chở cho căn cứ. Tôi lấy tên hai loài cây mọc nhiều ở bến Vàm Lũng, Rạch Gốc, Tân Ân mà đặt tên cho hai con. Chồng tôi là Tư Đức, Chính ủy Đoàn 962 đầu tiên, lấy bí danh là Tư Mắm. Đứa con lớn của chúng tôi tham gia quân giải phóng, đã hy sinh. Hai đứa sau tôi đặt tên là Đước, Dẹt cũng để gởi gắm làm người phải nỗ lực, phải có bản lĩnh chống chọi với hoàn cảnh, thiên nhiên khắc nghiệt. Một khi rễ cắm sâu vào đất thì không giông bão nào quật ngã được! Hòa bình, tôi về quê cũ chồng ở Giồng Trôm, Bến Tre xây dựng lại cuộc sống. Đước giờ là kỹ sư kinh tế, đang công tác ở TP Hồ Chí Minh. Dẹt tốt nghiệp bác sĩ, công tác ở Bệnh viện huyện Giồng Trôm".
Về Cần Thơ, chúng tôi chạm đến một ký ức không quên về những con tàu không số từ chị Bùi Thị Hồng Cúc - y tá trạm quân y, hậu cần, chuyển vận vũ khí ở bến Vàm Lũng, Cà Mau. Chị Cúc tham gia bộ đội khi mới 14 tuổi. Trong tâm thế những người trẻ tuổi, chắc nhiều người cũng giống tôi, để cùng gặp nhau ở câu hỏi: "Ở tuổi còn quá nhỏ như vậy, chị làm gì được cho bến?". Chị cười: "Hồi mới về bến Vàm Lũng công tác, chú Bông Văn Dĩa, người đi chiếc tàu gỗ đầu tiên ra gặp Bác Hồ, xin vũ khí cho chiến trường miền Nam thấy tôi ở trạm quân y, hỏi: "Đoàn 962 dư gạo hay sao mà lấy con nít?". Một người lên tiếng bênh tôi: Nó chưa đủ tuổi quân, còn nhỏ nhưng nhiệt tình lắm. Anh yên tâm, cơm gạo bộ đội nuôi con nít mau lớn lắm. Tôi được vào đơn vị, phục vụ trạm quân y, học y tá, nhưng khi tàu cập bến khẩn cấp, cùng các anh chị bên hậu cần ra bốc vác hàng. Phụ nữ ở rừng rất vất vả. Cô nào mới vô cũng da trắng, tóc dài, nhưng ít lâu sau, tắm nước mặn, tóc rụng hết... Chúng tôi không khóc vì hiểm nguy, gian khổ mà khóc mỗi khi thấy tóc rụng...".
Trong dòng suy tưởng, chị Cúc tiếp tục: "Tôi nhớ chú Ba Đà - Chính ủy đơn vị rầy chúng tôi: "Đi bộ đội là dám hy sinh xương máu. Tụi con chỉ mới mấy sợi tóc mà đã khóc như mưa, làm mấy chú rầu quá!". Vậy là chúng tôi không khóc nữa... Tôi thường chèo xuồng cho các chú đi tuần tra trên biển. Các chú nói: "Đứa nào bắn súng giỏi thì không phải chèo xuồng". Tôi bắn súng giỏi, luôn trúng đích nên rất ít khi phải chèo xuồng...".
| |
| Bến Vàm Lũng ngày nay. |
Chị Cúc kể tiếp: "Có một kỷ niệm không bao giờ quên. Đó là một buổi chiều tối năm 1972. Tôi đang ở trạm quân y thì có lệnh công tác khẩn. Có một điều lạ là chiếc ghe điều tôi đi không là những xuồng nhỏ bình thường như mọi ngày để dễ cơ động, mà là chiếc ghe 2 tấn rưỡi. Tôi ngạc nhiên hỏi các anh trên ghe: "Sao mình không đi xuồng nhỏ?". Một anh trầm ngâm nói: "Đi thì biết". Chiếc ghe đi ra rạch Dà... Như linh tính một điều gì chẳng lành, rất hệ trọng, tôi im lặng. Một lúc sau, chiếc ghe tấp vào bến. Tôi nhìn thấy một chiếc hòm gỗ màu xám trên sân tạm. Tôi nghe tim mình thắt lại, thảng thốt hỏi: "Anh Hai, ai chết?!". Anh Hai buồn lặng nói: "Mấy anh đánh tàu chiến hy sinh, xác trôi ngoài biển. Anh em mình vớt được, cho vô hòm, mang lên bờ chôn". Tay tôi run run nắm dây xuồng, cặp chiếc ghe sát bờ. Chúng tôi lấy hai cây dài bắc lên chiếc ghe, lật chiếc hòm lên chiếc ghe lớn. Chúng tôi không nói thêm điều gì, dùng hết sức vừa đưa chiếc hòm lên chiếc ghe, vừa khóc. Chiếc hòm nặng, nhưng chúng tôi di chuyển rất gượng nhẹ vì không muốn làm người liệt sĩ đau thêm lần nữa. Tham gia bộ đội, tôi làm nhiều nhiệm vụ, nhưng nhiệm vụ chôn người chiến sĩ đoàn tàu không số hy sinh năm ấy thì tôi không sao quên được!".







