Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 01:22 GMT+7

Những cụm bến yêu thương

Biên phòng - Trên tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển, Đoàn 125 vận tải vũ khí có 74 cảm tử quân hy sinh thì cũng ngần ấy những người mẹ, người vợ đón nhận nỗi đau mất mát, nuốt vào lòng những giọt nước mắt khóc người thân. Không chỉ có thế, nơi những cụm bến yêu thương, cuộc chiến tranh đã tạo ra những hoàn cảnh trớ trêu, chia lìa bao đôi lứa, cho dù họ còn được sống, được trở về ngày hòa bình. Song cũng chính nhờ kí ức đầy tự hào của một thời tuổi trẻ, họ đã vượt qua tất cả để tiếp tục sống và cống hiến.

Kỳ 4: Ký ức là điểm tựa

Về Cà Mau, tôi được gặp chị Tiết Thị Đào - nữ y tá của Đoàn 962 ở bến Vàm Lũng, từng có một mối tình rất đẹp trong thời gian phục vụ những con tàu không số ở mũi Cà Mau. Vàm Lũng là cửa sông Rạch Gốc, là bến cảng đón nhận, che chở cho hàng trăm chiếc tàu không số. Năm 1963, sau khi tàu vũ khí cập bến an toàn, có một thủy thủ người Bến Tre tên là Huỳnh Phước Hải được đưa về bệnh xá chữa bệnh. Trong lúc điều trị, anh vô rừng, cùng chị em chặt đước làm củi, dằn lên tàu sau khi đã bóc dỡ hết vũ khí, chuẩn bị cho chuyến tàu quay ra Bắc, chẳng may anh bị té vào gốc đước nhọn và bị thương.

Sau khi vết thương được khâu lại, chị Đào làm nhiệm vụ chăm sóc vết thương cho anh. Vết mổ đã đưa họ nên duyên vợ chồng. Rồi anh lại xuống tàu ra Bắc, biền biệt không tin tức, chị ở lại bến Vàm Lũng, tiếp tục công tác, sinh con…  Rồi có tin anh hy sinh, chị vẫn dồn nén đau thương để làm nhiệm vụ, nuôi con và chờ đợi trong hi vọng.

Hòa bình lập lại, chị lặn lội ra Bắc tìm anh mà không gặp, đành để lại quê chồng địa chỉ mới của chị và con ở Cần Thơ. Bất ngờ một ngày, anh trở lại, hai người có thêm một đứa con trai. Nhưng mối tình tuyệt đẹp của họ rất tiếc đã tan vỡ… "Hòa bình, tôi ở Cần Thơ công tác. Anh đã chuyển sang bộ binh, đơn vị đóng ở Sài Gòn. Bài toán cho vợ chồng đoàn tụ bên nhau dưới một mái nhà tưởng chừng đơn giản mà quá khó khăn trong những ngày hậu chiến. Tôi lại thiếu kinh nghiệm sống, đâu nghĩ những ngày hòa bình, sống ở Sài Gòn khác xa bến Vàm Lũng năm xưa…

Xa mặt cách lòng, anh ấy có thêm người phụ nữ khác. Dẫu vậy, tôi vẫn không trách anh, bởi trong lòng tôi vẫn sống cùng anh những ngày ở bến Vàm Lũng ấm áp tình quân dân, chan chứa yêu thương!" - Chị Đào ngậm ngùi. Sự trải lòng rất phụ nữ của chị làm không khí chùng xuống, cây bút trên bàn tay tôi cũng bất động trên trang giấy. Vâng, những bến bờ yêu thương vẫn sống mãi trong tâm thức những người đang sống.

cfbe_9-1.jpg
Những chị em công tác tại các cụm bến xưa chụp ảnh kỷ niệm cùng các chiến sĩ Hải quân Đoàn 125, Đoàn 962 anh hùng.
 
Một trong những người lính lặng lẽ, đặc biệt mà chúng tôi được gặp là chị Lê Thị Mới - nguyên là giao liên, y tá phục vụ tại Trạm quân y bến Trà Vinh. Từ một đội viên của đội văn nghệ xã, chị thoát ly cách mạng, trở thành y tá. Chị kể: "Khó khăn lớn nhất mà tôi vượt qua không phải là hiểm nguy, gian khổ mà chính là những lúc tôi phải chiến đấu để vượt qua sự yếu đuối của bản thân mình. Ở hai xã Long Vĩnh và Trường Long Hòa, thời chống Mỹ, dù bị càn quét ác liệt, bà con vẫn đào hầm bám đất, để cách mạng còn có chỗ tựa vào.

Chúng tôi đã quen sống trong những căn hầm nửa nổi nửa chìm trên cát, quen với đạn bom, gian khổ, thiếu thốn. Thật kỳ lạ, người dân vùng Duyên Hải quê tôi rất lạc quan. Cứ chiều chiều, đội văn nghệ chúng tôi tụ tập, múa hát. Chúng tôi được các chú lãnh đạo ở Đoàn 962 tập những bài hát cách mạng. Rồi tôi làm giao liên, được học y tá, cứu thương rồi về làm y tá ở trạm quân y".

Giống như chị Tiết Thị Đào, chị Mới cũng có một cuộc hôn nhân không trọn vẹn. Do yêu cầu công tác, chồng chị được chuyển đến bộ phận vận chuyển vũ khí, còn chị tiếp tục phục vụ ở trạm quân y, vừa nuôi con. Đôi vợ chồng trẻ cứ thế mà xa nhau biền biệt. Cũng do công tác bí mật, rất đặc thù, anh cùng một nữ thanh niên xung phong thường xuyên thực hiện những chuyến chở vũ khí từ các kho hàng trên đất Cam-pu-chia về Việt Nam. Sự gần gũi trong gian khổ ấy khiến tình cảm hai người phát sinh, có với nhau những đứa con. Nghe tin, lòng chị đau như xé, nhưng đành lặng lẽ rút lui.

Chị bảo: "Với phụ nữ chúng tôi, chiến tranh tàn khốc không chỉ ở sự phá hủy của bom đạn, chất độc khai hoang, mà còn cả sự đổ vỡ hạnh phúc. Tổn thất chiến tranh còn có cả chia ly, mất mát…".

Gần 1.000 tấn vũ khí được chuyển lên Quân khu 7, trong đó có 4 quả thủy lôi sừng trạm và hai trong bốn quả thủy lôi đó được bộ đội đặc công rừng Sác dùng để đánh chìm tàu Victoria của Mỹ trên sông Lòng Tàu. Từ những kho vũ khí ở các bến, biệt động Sài Gòn đã làm nên những chiến công bất tử…

Thật kỳ diệu, khi số vũ khí các cụm bến còn được chuyển đến các căn cứ biệt động Sài Gòn - Chợ Lớn bằng đôi vai mảnh mai của những cô gái Đoàn tải B60, mà chị Bùi Thị Hồng (còn gọi là Hồng Trang) là một nhân chứng sống động. Chúng tôi ngược về An Nhơn Tây, Củ Chi để gặp chị và biết thêm những câu chuyện về các chiến sĩ trong đoàn tải đặc biệt ấy.

Chị Bùi Thị Hồng rưng rưng nước mắt: "Đoàn B60 chúng tôi năm ấy có khoảng 30 chị em, phần lớn là dân Củ Chi, xuất thân trong những gia đình truyền thống cách mạng. Khi được tuyển làm nhiệm vụ, chúng tôi còn rất trẻ, rất hăng hái, dù buổi ra quân đầu tiên đã gặp ngay trận càn ác liệt của địch. Chúng tôi phải luồn trong địa đạo mà đi, một số chị hy sinh, nhưng không một ai bỏ về. Sau một tuần học chính trị, chúng tôi hành quân qua đất Chốc chiến khu Đ, qua sông Đồng Nai, Trảng Bom về Suối Cù, Suối Cả (nay ở Biên Hòa). Nhiệm vụ là đưa những chuyến hàng từ các bến Bà Rịa, từ Hắc Dịch về căn cứ.

Thường một giờ chiều, chúng tôi xuất phát, đi bộ xuyên rừng, chờ tối mới qua được lộ lớn, qua nhà dân về phía biển. Trinh sát đi trước dẫn đường, khi đến điểm tập kết phải chờ tàu vào bến rồi nhanh chóng ra nhận hàng. Chúng tôi vui mừng khi chạm đến vũ khí, vác trên vai những kiện hàng mấy mươi ký, lại xuyên rừng lội suối, qua đồng hành quân về căn cứ.

Từ đây, số vũ khí chúng tôi mang về được cất trong các kho, đợi các đơn vị khác đến tiếp nhận. Lộ trình chuyển hàng rất nguy hiểm vì thường gặp biệt kích, chất độc hóa học và bom pháo của địch. Đã có rất nhiều đồng đội của tôi đã hy sinh tên đường chuyển tải. Rồi những trở ngại khác như sức phụ nữ phải vác nặng đường xa, bị đỉa, vắt hút máu, những hành trình lội đồng máu loang theo nước… phải cắn răng vượt qua. Nhưng khi nghĩ đến số vũ khí ấy được chuyển vào thành phố, đánh vào nội đô, hang ổ Mỹ ngụy, chúng tôi vô cùng phấn khởi, quên cả mệt nhọc, hiểm nguy".

Khoảng lặng của câu chuyện khiến tất cả ánh mắt chúng tôi đều dừng lại nơi khoảng trống của chiếc chân chị. Chị lặng đi để nước mắt thay lời muốn nói, bởi chị còn may mắn sống sót trở về, dù bị thương, mất một chân khi làm nhiệm vụ. Chị xây dựng gia đình với một thương binh. Anh cũng mất một chân trong quá trình chiến đấu. Cả hai vợ chồng cộng lại chỉ còn hai cái chân, nhưng nghị lực của cặp vợ chồng thương binh ấy hơn những người lành lặn gấp nhiều lần!

Hòa bình, bắt đầu cơ nghiệp bằng đôi bàn tay trắng. Từ mấy công đất chính quyền cấp loang lổ hố bom, họ nỗ lực lao động, san lấp, trồng cây, nuôi heo, nuôi bò. Rồi chồng chị cũng vì đi cắt cỏ cho bò, cố sức kéo sợi dây ràng. Sợi dây bị đứt, đập vô mắt, thật là họa vô đơn chí, anh mất thêm một con mắt. Khó khăn rồi cũng qua, anh chị được đồng đội cũ ủng hộ xây được nhà, nuôi lớn những đứa con…

Trong chuyến công tác về Trà Vinh, chúng tôi thực sự ấn tượng với đội văn nghệ của các chị với những bài hát làm sống dậy một thời mở bến, thật hào hùng. Chị Trần Hồng Nuôi, là một trong những chiến sĩ nhỏ tuổi nhất của Đoàn 962, đã cho chúng tôi biết về hoàn cảnh ra đời của những bài hát "tay không bắt giặc" năm ấy: "Trong những năm các chú Đoàn 962 về Trà Vinh mở bến, đã dạy cho chúng tôi hát những bài hát cách mạng. Có những bài hát mà người dân Trường Long Hòa quê tôi rất thích như "Vượt trùng dương" và "Đội quân tóc dài". Chúng tôi hân hoan làm nhiệm vụ nuôi quân, chuyển thương, tải đạn.

Sau ngày hòa bình, niềm tự hào về những bến bờ anh hùng, về những con tàu không số luôn sống trong tim chúng tôi, thôi thúc chúng tôi tập hợp những cán bộ, đoàn viên, đội viên từng tham gia hệ thống Đoàn 962 rồi lập đội văn nghệ. Với hơn 10 thành viên, chỉ một cây đàn Măng-đô-lin, chúng tôi - những nữ cựu chiến binh Đoàn 962 đã đi diễn nhiều nơi và được đón nhận ấm áp!". Sự mộc mạc và niềm tự hào của các chị gợi lên trong lòng chúng tôi sự mênh mông khoáng đạt của biển và những bến bờ chan chứa yêu thương…

Cuộc sống dù đổi thay, nhưng những bến bờ năm xưa vẫn tồn tại trên tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển. Chúng ta nói sao cho hết lời để tri ân những người mẹ, người chị nơi những "bến cảng lòng dân" đã giữ sự bình yên cho những con tàu. Sự bảo đảm bí mật tuyết đối vòng trong, vòng ngoài ở các bến đã góp phần đưa số vũ khí từ những con tàu không số đến với các chiến trường.
Trầm Hương

Bình luận

ZALO