Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 11:59 GMT+7

Những dấu chân trên miền đất chết

Biên phòng - Puốc-xát. Tôi lần trên tấm bản đồ một phần mười vạn, tìm mảnh đất ghi dấu chân của người đồng đội. Những mảng màu những đường bình độ làm sao có thể nói lên những gì đồng đội đã chịu đựng và vượt qua để làm hàng rào chắn giữ miền đất hẻo lánh chân trời Tây Nam nước bạn trong cuộc chiến tranh giúp bạn giải phóng đất nước khỏi chế độ diệt chủng và bảo vệ thành quả cách mạng.

Trong bản đồ dịch tễ của thực dân Pháp để lại, vùng Puốc-xát bị bôi đen với ý nghĩa: Đây là vùng chết! Dấu chân anh chiến sĩ Biên phòng Việt Nam đã bước tới nơi ấy. Suốt bao đời nay, vùng rừng hoang dã và độc địa này không một ai liều lĩnh đi tới.

Đầu tiên, nghe nói đến tỷ lệ mắc bệnh sốt rét ở vùng này, đồng chí cán bộ Cục Quân y còn nghi ngờ: Làm sao có tỷ lệ cao như vậy được! Khi đến vùng rừng này, đồng chí mới thấy cái thực tế rùng mình: 90-96% quân số bị sốt rét. Số lượng hồng cầu của một số chiến sĩ thấp chưa từng thấy. Gia súc nuôi ở đây đều mất khả năng sinh sản. Rừng khoọc độc như rừng lim bên Việt Nam, không một loài thú nào sống nổi. Chỉ có muỗi, muỗi từng đàn như rắc trấu. "Các chiến sĩ Biên phòng sống được nơi ấy quả là một điều kỳ diệu!" - Lời của đồng chí cán bộ Cục Quân y.

Khí hậu Puốc-xát khắc nghiệt. 8 tháng mưa tầm tã, nước ngập thối đất, thối rừng. 4 tháng nắng như đổ lửa, cây cối khô cằn, các dòng suối teo lại và cạn khô. Phải đào giữa lòng suối sâu hàng mét mới mong tìm thấy nước. Bàn chân người chiến sĩ lở loét, sưng vù giữa mùa mưa, lại phải băng hàng buổi dốc để gùi nước uống giữa mùa khô. Ngày nóng 36-37 độ C, nửa đêm về sáng lại phải đốt lửa dưới hầm mà sưởi.

Chưa có vệt đường nào xuyên thủng miệt rừng già Puốc-xát heo hút này. Mùa khô còn có thể cắt rừng đi bộ về Lếch. Còn mùa mưa, con đường qua lại phải đi trên trời, phương tiện giao thông độc nhất là trực thăng, mà cũng chỉ những ngày quang mây mới hạ cánh được xuống đây. Vì vậy, giữa mùa mưa, lúc nào các chiến sĩ cũng chuẩn bị ăn quả dâu da đất và môn thục thay cơm.

Sẽ sa vào kể lể khi nói đến nỗi thiếu thốn về vật chất của các chiến sĩ. Bởi vì, việc ăn rút tiêu chuẩn từ 7 lạng gạo xuống còn 3 lạng một ngày là chuyện bình thường. Dưới cơn mưa dầm dề, quần áo hong trên lửa mới khô và hằng ngày mở mắt là đã băng rừng, thì bộ quần áo chỉ có tuổi thọ chưa đầy hai tháng. Thèm một bữa canh rau dền, một bát nước chè xanh bốc khói. Thiếu từ đôi giày đến tấm áo đi mưa, cái võng để nằm, cái chăn để đắp.

Và thiếu cả tiếng chim hót, tiếng khóc trẻ thơ. Xa dân hàng chục ki-lô-mét. Thư từ, báo chí ùn lại ở Lếch. Báo hằng ngày trở thành "tam nguyệt báo". Có đồng chí về Lếch, gặp các em bé Cam-pu-chia, cứ đứng ngây ra nhìn, nhìn không chán mắt. Thư nhà bất kể của ai, cả tiểu đội đều thuộc lòng. HU IA chở phim lên, chiếu suốt 8 ngày, 8 đêm, có bộ phải chiếu lại 5 lần, anh em vẫn thấy thòm thèm. Cái máy thu thanh chỉ hai tuần là hết nhẵn đôi pin mới...

Sẽ không cắt nghĩa được sức sống của các chiến sĩ ở đây, nếu không biết động lực nào đã làm bàn chân các chiến sĩ dẻo dai. Ai cũng đinh ninh rằng, mình có mặt ở đây là nhờ sự chở che một phía quê nhà. Dù ở biên giới phía Bắc Tổ quốc hay biên giới Tây Nam Cam-pu-chia, các chiến sĩ vẫn xác định làm tròn nhiệm vụ mà lịch sử đã đặt xuống vai người lính Biên phòng Việt Nam: Bảo vệ hòa bình.

Vì thế, nếu như ở biên phòng Việt Nam, các anh đã san núi làm nhà, khoét vách đá trồng hoa thì ở đây, các anh đã bắt đầu chinh phục thiên nhiên. Không có tư tưởng tạm bợ, các chiến sĩ dựng nhà và tổ chức cuộc sống. Vùng đất hoang dã, rau dại chỉ có môn thục, những tháng đầu tiên đến đây, mọi người chỉ mong ra Lếch để ăn bữa rau. Nay, các loại rau cải, dền, mồng tơi... tươi tốt khắp các trận địa. Cọng rau đổi bằng mồ hôi, sức lực và ý chí. Không kể đến chuyện cán bộ, chiến sĩ mang hạt giống rau từ khắp nơi đến, không kể việc gùi phân đạm trong ba lô từ Việt Nam sang, chỉ tính đến cái khoản chăm sóc rau thôi cũng đã kỳ công: Mùa khô, anh em phải gánh nước từ dưới chân đồi lên khu tăng gia. Mùa mưa phải làm lán che cho rau. Anh em ở đây kể chuyện "lợn nằm màn" như là một giai thoại: Hàng chục con lợn đều phải "ngủ màn" và đã có thói quen này. Những chú lợn giống đầu tiên của Đoàn M4 bị sốt rét rừng quật ngã. Không bó tay, các chiến sĩ nghĩ ra cách nuôi lợn kiểu này. Nuôi gà cũng không kém phần vất vả. Để giữ bí mật trận địa, những chú gà trống đều phải ngủ hầm, chui rọ hoặc đeo "gông" để không gáy được. Các trận địa đều có đàn gà hàng chục, hàng trăm con. Tăng gia đã giải quyết phần lớn thực phẩm. Khi chai nước mắm của Đoàn M4 gửi tặng Sư đoàn X và được chuyển đến bệnh xá cho thương binh, bệnh binh, thì mọi người không còn ngạc nhiên về chuyện Đoàn M4 đã đứng vững trên vùng biên giới hẻo lánh, độc địa.

Giúp cho Đoàn M4 còn phải kể đến lòng người phía sau: Hạt gạo, hạt muối lên đến đơn vị đã phải trả bằng máu. Những chuyến máy bay chở hàng trong mùa mưa. Những ổ gà giống, những chú lợn giống của bà con Cam-pu-chia ở Lếch, ở Puốc-xát gửi tặng.

Không phải chỉ vượt qua gian khổ do thiên nhiên gây ra. Ở cái nơi cách đất Thái Lan một bước chân, chỉ có những con người kiên định mới luôn luôn phân biệt được ranh giới của chung thủy và phản bội. Một Phân đội 28 chiến sĩ bị mất bản đồ, địa bàn bởi một trận lũ, đi lạc sang vịnh Thái Lan. 36 ngày mò mẫm giữa rừng, gặp địch, đánh địch, chịu đói chịu khát tìm đường trở về đơn vị. Tôi hiểu tại sao khi phân đội bị lạc, hai tiểu đoàn tung ra nửa tháng đi tìm không thấy một vết tích nào, đã có nhiều người bảo rằng: "Muốn tìm được họ thì phải sang tận Băng Cốc!". Các đồng chí chỉ huy Đoàn M4 vẫn khẳng định: "Phân đội bị lạc đường! Không thể có chuyện chạy sang đất Thái!". 28 chiến sĩ trở về mang đầy đủ vũ khí, cả vũ khí thu được của địch, trong lúc 6 chiến sĩ đã bị bại liệt, những người còn lại cũng chỉ còn chút sức lực cuối cùng vì hơn một tháng trời nuôi bước chân bằng môn thục và quả dâu da đất, đã khẳng định lòng tin ấy.

Cuộc chiến đấu dai dẳng và nguy hiểm. Bọn tàn quân Pôn Pốt, bọn Sê-rây-ca được nuôi béo bằng bơ sữa Mỹ, đã lén lút trở lại phá hoại biên giới. Chúng có cái lợi thế là thông thạo địa hình, cơ thể đã thích nghi với miền đất độc địa này. Chỗ đứng chân của chúng là vùng đất Thái Lan chìa ra bên vịnh Thái Lan, có nhiều bến cảng đón nhận tiếp tế của Mỹ và bọn phản động quốc tế đưa đến bằng đường biển. Từ đấy, chúng chỉ cần một giờ đi bộ là đến biên giới Puốc-xát. Bọn địch dồi dào lương thực và súng đạn. Nhưng chúng chỉ là những nhóm tàn quân, thổ phỉ, đang chết dần chết mòn không còn sức sống.

Vòng vây mìn KP2 của địch như một cái bẫy vô hình. Mìn KP2 được sản xuất từ nước ngoài đổ vào cho tàn quân Pôn Pốt khá nhiều. Bọn địch chăng khắp nơi, bao vây các căn cứ của Đoàn. Chúng hoạt động theo kiểu thổ phỉ, không thể dùng lực lượng lớn để truy quét. Ban chỉ huy Đoàn đã quyết định bung ra để diệt địch. Cách đánh sở trường của Bộ đội Biên phòng Việt Nam với chiến thuật phân đội nhỏ đã có hiệu quả diệt địch cao, ít bị tổn thương. Có phân đội diệt gọn nhiều toán quân địch có số lượng đông ngang bằng hoặc gấp rưỡi ta. Giờ đây, mìn, lựu đạn địch gài hòng diệt ta đã trở thành kho vũ khí của các chiến sĩ Biên phòng. Đoàn M4 đã gỡ được gần 2.500 quả mìn, lựu đạn. Nhiều trận đánh dùng mìn địch đã có hiệu quả. Một năm lại đây, các phân đội đã đánh 108 trận, diệt hàng trăm tên địch. Ấn tượng "Bộ đội Biên phòng chỉ giỏi làm nhà và đào công sự" như lời nhận xét đầu tiên của một vài người nay đã khác: Hiệu suất chiến đấu của Đoàn M4 cao hơn so với các đơn vị khác cùng làm nhiệm vụ truy quét tàn quân địch.

Chiến thắng thiên nhiên, chiến thắng quân thù, các anh đã khẳng định niềm tin về mình.

Tôi gặp anh Đỗ Quang Viết, Chính ủy Đoàn M4 tình nguyện Biên phòng Việt Nam đang chiến đấu ở Puốc-xát. Bàn chân của người chiến sĩ ấy đã xông tới trong những trận công đồn hồi 9 năm chống Pháp, từng lội suối trèo đèo trên nhiều miền biên giới Tổ quốc, hai năm nay, bàn chân anh lại đặt đến những cánh rừng Puốc-xát. Không thể tìm thấy trên gương mặt anh một nét ưu tư. Tôi biết, Hà Nội, nơi xa anh hàng ngàn ki-lô-mét, trên gác 5 của một ngôi nhà cao tầng, vợ và 4 đứa con anh đang nghĩ về anh. Trái tim người vợ ấy từng đập theo hướng bom nổ nơi anh đi tới trong những năm chống Mỹ, giờ đây lại ngóng về một miền biên giới nước bạn xa xăm. Đã gần 50 tuổi rồi, người Chính ủy vẫn không ngần ngại dấn thân vào nơi gian khổ, cái tuổi mà không ít người đã bắt đầu chững lại.

Trong câu chuyện, anh không nói gì đến mình, chỉ nói về đồng đội. Anh đã bị sốt rét Puốc-xát thử thách vài lần, bị lũ sông Kơ Long - Kơ Lum suýt cuốn trôi. Không riêng gì Đỗ Quang Viết, đội ngũ cán bộ của đoàn, những người đã trải qua nhiều thử thách trong kháng chiến chống Mỹ, chống bọn phản động, giờ đây, theo tiếng gọi của người đồng chí, đến trụ lại, bảo vệ một phần đất nước bạn. Đó là các đồng chí Quang Phổ, Nguyễn Quang Thành, Bùi Đức Toàn không sợ hy sinh, gỡ những quả mìn lạ đầu tiên, mở lối thoát vòng vây mìn KP2 của địch. Đó là đồng chí Nguyễn Đức Tuấn, kiện tướng gỡ mìn, đã gỡ gần 100 quả. Đó là Trịnh Xuân Lộ, Nguyễn Xuân Hồng chỉ huy phân đội mở đường trở về đơn vị, sau 36 ngày bị lạc giữa rừng sâu. Anh Hồng, Phân đội trưởng, tình nguyện ở lại chăm sóc, bảo vệ 5 thương binh, đã hy sinh trong một trận chiến đấu với địch khi đi tìm măng rừng làm thức ăn cho thương binh... Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của mình, các anh đã đổ mồ hôi, giờ đây, trong cuộc chiến đấu vì nghĩa vụ quốc tế cao cả, các anh lại hiến dâng cả xương máu, cuộc đời. Các chiến sĩ từ nhiều miền quê, nhiều lứa tuổi nén lại những mơ ước riêng để đi đến nơi này với ý nghĩ cao đẹp: Bảo vệ Tổ quốc mình.
Thy Vũ

Bình luận

ZALO