Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 03:19 GMT+7

Những dự báo thiên tài của Bác Hồ qua thơ chúc Tết

Biên phòng - Kể từ năm 1941 đến lúc đi xa, Bác Hồ đã viết tổng cộng 22 bài thơ chúc Tết, mỗi bài thơ của Bác đều ngắn gọn, dễ nhớ. Nhưng điều khiến cho thơ Tết của Bác trở nên đặc biệt bởi nó không đơn giản chỉ là thơ xuân, mà còn là lời hiệu triệu, cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ, nhân dân cả nước. Đó còn là những dự đoán thiên tài về tương lai của cách mạng Việt Nam.

y7pn_4-1.jpg

Sau hơn 30 năm bôn ba ra nước ngoài để tìm đường cứu nước, ngày 28-1-1941, Bác Hồ đã trở về Việt Nam, lập bản doanh tại Pắc Bó, Cao Bằng để cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Và trong mùa xuân này, Người đã viết cuốn "Lịch sử nước ta" bằng thơ lục bát (dài 208 câu) phác họa toàn bộ quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử với những sự kiện, nhân vật cụ thể, ra mắt độc giả đúng vào dịp Tết Nguyên đán Nhâm Ngọ 1942.

Cũng trong Tết Nhâm Ngọ này, lần đầu tiên, Người viết bài thơ mừng Xuân, chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước với những vần thơ giản dị, nhưng có hàm lượng trí tuệ cao, mang tính dự báo khoa học, đăng trên báo Việt Nam Độc Lập số 114, năm 1942: "Chúc toàn quốc ta trong năm nay/ Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới/ Năm nay là năm Tết vẻ vang/ Cách mạng thành công khắp thế giới".

Sau khi bị mật vụ Tưởng Giới Thạch bắt giam khi Người từ Cao Bằng đến Quảng Tây (tháng 8-1942) và bị trục xuất về nước (tháng 9-1943) thì mùa xuân năm 1944, Người viết bài "Chào xuân" in trên báo Đồng Minh ký tên Hồ Chí Minh. Trong bài thơ chúc Tết này, Người đã dự cảm được thời cơ cách mạng thành công đang đến rất gần: "Rót cốc rượu xuân, mừng cách mạng/Viết bài chào tết chúc thành công...". Quả nhiên, chỉ một năm sau đó, ngày 19-8-1945, nhân dân ta đã nổi dậy giành chính quyền trong cả nước đúng như lời chúc của Người; và ngày 2-9-1945, Người đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Quảng trường Ba Đình lịch sử.

Nhưng niềm vui độc lập của dân tộc Việt Nam chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, từ đó trong các bài thơ chúc Tết của Người năm Bính Tuất (1946), Đinh Hợi (1947), Mậu Tý (1948), Kỷ Sửu (1949), Canh Dần (1950)... đăng trên các báo Độc Lập, Sự Thật (báo Nhân Dân sau này) đều mang một sắc thái riêng, ẩn chứa những nhiệm vụ cách mạng rất cụ thể, theo sát 9 năm kháng chiến trường kỳ, tràn đầy hào khí của dân tộc cùng niềm tin vững chắc vào thắng lợi, như bài thơ Tết năm Đinh Hợi (1947): "Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió/Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông/Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến/Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.../Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!".

Đến Tết Giáp Ngọ 1954, dường như dự cảm trước được thắng lợi của cách mạng Việt Nam, thơ chúc Tết của Người đã mang một tâm thế mới, không còn là những lời kêu gọi chung chung mà chỉ rõ 2 nhiệm vụ cụ thể cách mạng nước ta phải làm để có thể giành được chiến thắng: "Năm mới quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành/ Đẩy mạnh kháng chiến để giành độc lập tự do/ Cải cách ruộng đất là công việc rất to/ Dần dần làm cho người cày có ruộng khỏi lo nghèo nàn/ Quân và dân ta nhất trí đoàn kết/ Kháng chiến kiến quốc nhất định hoàn toàn thành công".

Đúng như lời tiên đoán của Người, chưa đầy 4 tháng sau, ngày 7-5-1954, quân và dân ta đã có chiến thắng vang dội, lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, đó là chiến thắng Điện Biên Phủ, chấm dứt ách đô hộ của thực dân Pháp.
 
Đất nước được giải phóng, nhưng Bắc Nam còn bị chia cắt nên những năm sau đó, ngoài nghi thức chúc Tết truyền thống, thơ chúc Tết của Người là lời hiệu triệu, cổ vũ quân và dân ta tiếp tục phát huy truyền thống chống giặc ngoài xâm đưa giang sơn trở về một mối. Bài thơ chúc Tết Đinh Mùi (năm 1967). Bác viết: "Xuân về xin có một bài ca/ Gửi chúc đồng bào cả nước ta/Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi/Tin mừng thắng trận nở như hoa...".

Năm 1968 là năm Người viết nhiều thơ xuân nhất (6 bài thơ) được viết ở nhiều thời khắc khác nhau, song đều mang âm hưởng, sự khẳng định về niềm tin tất thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, làm thay đổi tương quan lực lượng, buộc Mỹ - ngụy ngồi vào bàn đàm phán bốn bên ở Pa-ri. Âm hưởng đó được thể hiện rất rõ qua bài thơ Xuân Mậu Thân (năm 1968): "Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/Thắng trận tin vui khắp nước nhà/ Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/Tiến lên/ Toàn thắng ắt về ta!”.

Năm 1969, dù sức khỏe yếu đi nhiều, nhưng Người vẫn làm thơ chúc Tết và tự đọc để tặng chiến sĩ, đồng bào cả nước. Bài thơ lục bát tuy ngắn nhưng cô đọng, súc tích như một lời tiên đoán thần kỳ của Người về thắng lợi của con đường giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước:

Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên!
Chiến sĩ, đồng bào!
Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn.


Đây cũng là bài thơ được nhạc sĩ Huy Thục phổ nhạc với tựa đề bài hát "Tiến lên chiến sĩ, đồng bào" đã làm rung động hàng triệu trái tim người Việt Nam ở hai miền Nam, Bắc; là nguồn cổ vũ, tiếp thêm sức mạnh để cán bộ, chiến sĩ ở mặt trận, đồng bào ở hậu phương quyết tâm giành thắng lợi "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào". Và đúng như lời tiên đoán của Người trước lúc đi xa, 6 năm sau, mùa xuân năm Ất Mão 1975, đất nước ta đã hoàn toàn giải phóng, Nam Bắc sum họp một nhà.

Gần nửa thế kỷ Bác đã đi xa, nhưng những bài thơ chúc Tết của Người luôn khắc sâu và lắng đọng trong tâm trí người Việt Nam bởi những bài thơ đó, không chỉ vui Tết, mừng xuân, mà còn chan chứa biết bao tình cảm của Người gửi tặng đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài; là tài sản văn hóa tinh thần vô giá của dân tộc, khơi dậy trong toàn Đảng, toàn dân ta tinh thần yêu nước, vui xuân, tin tưởng tuyệt đối vào tương lai tốt đẹp của đất nước.
Hương Mai

Bình luận

ZALO