Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 10:39 GMT+7

Những nghi ngại về "Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21"

Biên phòng - Trong tháng 9 và tháng 10 năm 2013, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình trong chuyến thăm các nước Trung Á và Đông Nam Á đã đề xuất xây dựng một "vành đai kinh tế con đường tơ lụa trên bộ" và "Con đường tơ lụa trên biển trong thế kỷ 21" (MSR). Đây là sáng kiến lớn thu hút được sự chú ý của cộng đồng quốc tế, trong đó có sự hưởng ứng và cả những nghi ngại về mục đích ngầm của Trung Quốc.

vc9p_6a-1.gif
Tiến sĩ Xue Li trình bày về chiến lược OBOR và "con đường tơ lụa trên biển" tại Hội thảo "Con đường tơ lụa trên biển và quan hệ quốc tế ở Biển Đông: Hiện trạng và triển vọng" được tổ chức cuối tháng 11, tại Hà Nội. Ảnh: Bích Nguyễn
 
"Con đường tơ lụa trên biển"

Tên chính thức "con đường tơ lụa" xuất hiện từ năm 1877, do nhà địa chất học người Đức F.Rích-chô-phen (1833-1905) viết một cuốn sách về Trung Quốc. Từ đó, cái tên đầy "quyến rũ" này được toàn thế giới biết đến. Sở dĩ nhà địa chất học này đặt tên như vậy là bởi: Tuyến đường bộ xuyên châu Á này chủ yếu dùng để vận chuyển tơ lụa từ Trung Quốc ra bên ngoài.

Theo Văn kiện Tầm nhìn và hành động thúc đẩy cùng xây dựng vành đai kinh tế con đường tơ lụa và MSR của Trung Quốc, cấu trúc khung của hệ thống đường tơ lụa mới gồm trục tương tác chính Á - Âu với "một vành đai một con đường" (OBOR) trải dài khắp châu Á, châu Âu và châu Phi. Một đầu của nó là vòng tròn kinh tế Đông Á đầy năng động, đầu kia là vòng tròn kinh tế châu Âu phát triển, ở giữa hai đầu ấy là các nước giàu tiềm năng kinh tế. Trọng điểm của MSR đi từ các cảng ven biển Trung Quốc qua Biển Đông đến các cảng ven biển Ấn Độ Dương, mở rộng sang châu Âu. Một nhánh khác là từ các cảng ven biển của Trung Quốc đi qua Biển Đông tới Nam Thái Bình Dương. Chính phủ Trung Quốc cũng tuyên bố, MSR sẽ phục vụ cho sự phát triển hàng hải của các nước dọc theo tuyến đường, mở rộng giao thương biển cũng như thúc đẩy sự thịnh vượng trong khu vực. Trên cơ sở cấu trúc khung này sẽ hình thành các hành lang hợp tác kinh tế quốc tế như: Cầu nối Á - Âu; Trung Quốc - Nga - Mông Cổ; Trung Quốc - Trung Á - Tây Á; Trung Quốc - bán đảo Nam Á.

Tại Hội thảo "Con đường tơ lụa trên biển và quan hệ quốc tế ở Biển Đông: Hiện trạng và triển vọng" được tổ chức cuối tháng 11 vừa qua tại Hà Nội, Tiến sĩ (TS) Xue Li, Viện Kinh tế học và Chính trị Quốc tế, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc cho biết: "Chiến lược OBOR sẽ là kế hoạch trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong thập kỷ tới. Trung Quốc đang chuyển dịch từ một thế lực khu vực với ảnh hưởng toàn cầu sang một quyền lực toàn cầu hoàn chỉnh. Chính phủ mới của Trung Quốc biến OBOR thành động lực cho tiến trình này".

Luận về quy mô và cấu trúc, chức năng của MSR, TS Trịnh Văn Định, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cho hay: Đường tơ lụa mới vừa là sự mở rộng của đường tơ lụa cũ (kết nạp thêm thành viên mới), vừa là mở thêm nhiều tuyến đường mới qua Nga, đến châu Âu, đồng thời bổ sung hệ thống đường tơ lụa ít được biết từ Vân Nam đến Đông Nam Á. Đặc biệt, hệ thống đường tơ lụa được mở ra toàn Biển Đông, sang Ấn Độ Dương. Về cấu trúc, nếu như hệ thống đường tơ lụa cổ xưa cơ bản là hai nhánh chính của đường bộ, thì MSR ít nhất được cấu trúc theo hệ thống đường bộ, hệ thống biển và hệ thống tơ lụa vô hình (tơ lụa thông tin). Như vậy, cấu trúc của hệ thống đường tơ lụa mới đa chiều hơn, quy mô hơn, mang tính chất toàn cầu nhất trong lịch sử đường tơ lụa.
Và những nghi ngại

Dù Trung Quốc luôn nói rằng, việc xây dựng MSR thuần túy vì lợi ích kinh tế và nhận được sự ủng hộ của một số nước, nhưng vẫn vấp phải những nghi ngại của cộng đồng quốc tế. Tại hội thảo, Giáo sư (GS) S. Ta-ka-gi, Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật Bản ví MSR giống như một bàn tay sắt đeo găng tay lụa. Còn TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ khẳng định: "MSR là một biện pháp mà Trung Quốc dùng để giành lấy sự chứng nhận trên thực địa đường lưỡi bò mà nước này tuyên bố".

Đồng tình với nhận định này, GS-TS Trần Ngọc Vương, người có 40 năm nghiên cứu về Trung Quốc cho rằng: MSR là cách thức Trung Quốc xác định lộ trình mới để chinh phục thế giới. Trung Quốc mượn tên con đường tơ lụa để làm mềm hóa mọi chuyện. Nó không phải là sáng kiến mà là đại chiến lược của Trung Quốc, cùng với chiến lược OBOR. Nếu hoàn thành được con đường tơ lụa trên biển thì đây là lần đầu tiên Trung Quốc hoàn thành được cuốn hải sử trên toàn cầu và con đường chinh phục thế giới thông qua biển".

Nhìn từ góc độ lịch sử, TS Trịnh Văn Định khẳng định: MSR có mối liên hệ chặt chẽ với con đường cổ xưa. Đây là chiến dịch lớn nhất trong lịch sử mở đường của Trung Quốc. Lần đầu tiên con đường này quét vào Việt Nam và ôm trọn châu Âu và châu Á. Hàm ý mới của con đường tơ lụa tạo sự quyến rũ, một hình ảnh về Trung Quốc rất đáng yêu và hiện thực hóa khát vọng cũ của mình trở thành siêu cường thống trị thế giới.

Trong khi đó, ông Vi-giây Sa-khu-gia, Giám đốc Quỹ Hàng hải Quốc gia Ấn Độ cho rằng, MSR không chỉ có mục đích về kinh tế mà là con đường mang tính chiến lược, phục vụ cho các mục đích khác, không ngoại trừ mục đích an ninh chính trị. Ông nói: "MSR là công cụ ngoại giao để thúc đẩy những mục tiêu chính sách đối ngoại của Trung Quốc và xóa tan "mối đe dọa Trung Quốc" thường trực trong một số nước. Khía cạnh kinh tế của sáng kiến này kêu gọi xây dựng cơ sở hạ tầng để đẩy mạnh quan hệ thương mại. MSR cũng là động cơ chiến lược nhằm xây dựng các đồn trú cho hải quân và tiếp sức cho các hoạt động của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương. MSR đã được một số nước chào đón như một thời cơ để xây dựng cơ sở hạ tầng hàng hải với sự hỗ trợ của Trung Quốc. Về cơ bản, MSR đem lại cho Trung Quốc và các đối tác của mình nhiều thời cơ để gặt hái những lợi ích của toàn cầu hóa thông qua thương mại. Tuy nhiên, MSR chưa nhận được sự ủng hộ của Niu Đê-li và bị coi là nỗ lực thiết lập cơ sở hạ tầng hai mục đích (thương mại và chiến lược) của Trung Quốc để bao vây Ấn Độ về quân sự".

Để thông tuyến qua Biển Đông

Những nghi ngại của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước trong khu vực về sáng kiến MSR của Trung Quốc rõ ràng là có cơ sở bởi những diễn biến căng thẳng ở Biển Đông mà nước này gây ra. ASEAN là cửa ngõ chính của MSR và Trung Quốc đang tranh thủ ra sức vận động sự đồng thuận của các nước ASEAN bằng cách thúc đẩy hợp tác song phương, hỗ trợ tài chính đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại các nước này. Song song với đó, Trung Quốc lại gia tăng những hoạt động gây tranh chấp trên Biển Đông như yêu sách đường lưỡi bò đòi tới 80% diện tích Biển Đông, tôn tạo, xây dựng trái phép các đảo nhân tạo, đe dọa an ninh hàng hải, tuần tra đơn phương trên vùng biển một số quốc gia…

Theo các nhà phân tích quốc tế, với những động thái tiêu cực trên, Trung Quốc đã gây xói mòn lòng tin của các nước trong khu vực. Xung đột ở Biển Đông đang là "phép thử" của Trung Quốc đối với một số quốc gia trong khu vực ASEAN. MSR chỉ có thể thành hiện thực khi vấn đề Biển Đông được giải quyết.

Đề cập tới vấn đề này, các chuyên gia cho rằng, Trung Quốc phải thể hiện thiện chí của mình trong việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. TS Xue Li đề xuất, đầu tiên, giới học giả cần tập trung nghiên cứu liệu các quốc gia có thể thỏa hiệp với nhau như thế nào? Ông gợi ý: Một số đảo ở Trường Sa cần được xây dựng để thành lập công viên biển, đảo; cần nghiên cứu xem có bao nhiêu đảo có thể chìm xuống nước khi triều lên và sử dụng như thế nào đối với các quốc gia mà không cần kiện lên tòa án quốc tế.

Vị TS này cũng đặt vấn đề xây dựng cơ chế khai thác chung, hoặc đưa ra các lệnh đánh cá chung trong khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, đề xuất này không khả thi bởi không thể xây dựng một cơ chế khai thác chung, sử dụng chung trên vùng biển thuộc chủ quyền của một quốc gia cụ thể. Điều này chỉ có thể được thực hiện ở vùng biển quốc tế, vùng biển chung.

Từ hiện trạng những tranh chấp, căng thẳng trên Biển Đông, GS Đa-vít A-ra-sê, Học viện Quốc phòng Ô-xtrây-li-a khuyến nghị: "Nên bắt đầu suy nghĩ về các phương án, biện pháp khác để giải quyết vấn đề Biển Đông chứ đừng cố theo kiểu suy nghĩ trước kia là liên minh với một nước nào đó để giải quyết vấn đề. Cần dựa vào các cơ chế quốc tế để giải quyết vấn đề. Bất kỳ một hành động đơn phương nào cũng sẽ để lại hậu quả. Cơ chế đa phương là cơ chế cần thiết và hiệu quả cho tương lai".

GS S.Ta-ka-gi đề xuất 3 giải pháp giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Theo đó, các nước phải ra tuyên bố đúng luật pháp quốc tế; không được sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trên thực địa; các tranh chấp phải được giải quyết bằng con đường hòa bình.
Bích Nguyên

Bình luận

ZALO