Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 06:44 GMT+7

Những người anh em “nhỏ bé”

Biên phòng - Giữa dải đất biên giới miền Trung khô cằn đá sỏi, có một đỉnh núi luôn bồng bềnh mây trắng có cái tên khá lạ là Giăng Màn. Điều khiến cho ngọn núi này trở thành một cái tên được nhiều người biết đến là bởi câu chuyện về hành trình hơn 50 năm của một dân tộc trong cuộc hồi sinh đầy quyết liệt.

Bài 8: Trên đỉnh rừng Túng Sán

Bài 9: Sau bóng núi Giăng Màn


Mã Liềng, Rục, Cọi, Mày, Sách, A Rem, Pa Leng, Tắc Cực... dễ phải có đến hơn 10 cái tên để chỉ cộng đồng người sống tập trung chủ yếu ở các huyện Minh Hóa, Tuyên Hóa, Bố Trạch (Quảng Bình), Hương Khê (Hà Tĩnh). Năm 2009, cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở cho thấy số lượng người Chứt ở Việt Nam hiện có khoảng 6.022 người. Được xếp vào nhóm ngữ hệ Việt - Mường, người Chứt được giới nghiên cứu ngôn ngữ học đánh giá là có tiếng nói gần gũi với tiếng Việt lúc sơ khai. Ngay cả Giáo sư Trần Trí Dõi, Giám đốc Trung tâm "Nghiên cứu phát triển các dân tộc thiểu số và miền núi" thuộc trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã nhận xét, tiếng Chứt như "bảo tàng lưu giữ các giai đoạn phát triển của tiếng Việt". Thậm chí ông cho rằng, văn hóa của người Chứt cũng cho phép tìm lại lịch sử phát triển của người Việt cổ.

Trong không gian yên lặng của bản Kè, thuộc xã Lâm Hóa, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình, chúng tôi ngồi cùng những người già để nghe các cụ giảng giải đâu là rừng thiêng, là đất kiêng, là suối cấm... từ đó thấy rằng đất trời sinh ra vạn vật, vạn vật có ý nghĩa nào đó trong đời sống tâm linh con người đều có cái lí của nó. Tục ngữ người Kinh có câu "Không thầy đố mày làm nên". Người Mã Liềng có câu “Đi đâu nhớ mang theo bộ ba gốc rễ” (cái giỏ, cái nỏ và đọi hương). Cái giỏ và cái nỏ là đạo lý làm người với Trời - Đất - Cỏ cây của người Mã Liềng. Đọi hương là đạo lý làm con của tổ tiên, cha mẹ sinh ra. Nhân văn và thấu đáo là thế, nhưng cuộc sống của họ thì lại quá đỗi gian khó, gieo neo.

Còn ở Rào Tre (Hương Khê, Hà Tĩnh), những người đã sống qua 70 mùa măng đều thuộc lòng câu chuyện rằng, dân tộc Chứt của họ mang lời nguyền truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, mãi sống kiếp lang thang, đời đời cô độc như đại bàng không có tổ, sinh ra, lớn lên, rồi chết đi trong hang đá. Những người Mày ở Minh Hóa cũng không nằm ngoài quy luật nghèo khó, lụn bại đã xảy đến với những người anh em đồng tộc của mình sau bóng núi. Họ sống lầm lũi, cô độc giữa rừng sâu, không mấy liên hệ với cộng đồng xung quanh mình. Nhưng những tháng ngày phiêu dạt nơi đầu rừng xó núi ấy đã trở thành ký ức kể từ khi bà con theo BĐBP về cắm bản, định canh, định cư. BĐBP bảo, dân tộc Chứt đã vượt biết bao nhiêu ngọn núi, bao nhiêu quả đồi mà có thoát được lời nguyền đâu? Vậy thì cái đầu của người Chứt phải nghĩ khác đi thôi. Núi ở đây chính là sự trì độn, an phận và biếng nhác to như quả núi đè nặng trong ý thức mỗi người. Muốn làm được như thế thì chỉ có thể bằng cách lao động chăm chỉ, phải học cái chữ Bác Hồ, phải sống định canh, định cư mới mong vượt qua được nghèo đói, bệnh tật đeo đẳng. Trưởng bản Rào Tre Hồ Kính vẫn nhớ cái ngày BĐBP Hà Tĩnh lập tổ công tác Rào Tre cách đây 11 năm. Đó cũng là ngày bà con bắt đầu làm quen với những sinh hoạt theo khuôn khổ mà các cán bộ, chiến sỹ trong tổ công tác đề ra. Những ngày tháng ấy, dòng Rào Tre đã chứng kiến và ghi lại trong lòng nó biết bao gian khó mà những người lính quân hàm xanh phải vượt qua để cùng với dân bản xây dựng đời sống mới. Cả ngàn ngày như một, sáng sớm, các anh em trong tổ phải dậy sớm nấu cơm chia cho bà con ăn để còn ra ruộng. Sau khi phân phát dụng cụ lao động cho từng người, các anh mỗi người một hướng, theo sát bà con để hướng dẫn cách cấy cày, xuống giống, làm cỏ, bón phân... cho đến khi mặt trời xuống núi mới về bản. Mỗi tuần ba lần, người dân Rào Tre lại theo tiếng kẻng tập hợp ra đầu bản để cùng BĐBP tắm gội, giặt giũ quần áo và làm vệ sinh bản làng.
20can-1.jpeg
Lễ cúng xuống đồng của đồng bào Chứt trên thung lũng Rục Làn.

Ở bản Ó, Yên Hợp hay Mò O Ồ Ồ thuộc xã Thượng Hóa (Minh Hóa, Quảng Bình) cũng không ngoại lệ. Khi màn đêm buông xuống, mỗi nếp sàn trong bản đã tắt lửa, bà con yên giấc thì những người lính biên phòng Đồn BP Cà Xèng lại bận rộn với những công việc không tên. Vốn bởi bà con nơi đây đã quen với nếp sống tự do, hễ có gạo, có thóc giống là đem đổi lấy rượu hoặc những nhu yếu phẩm được cấp như xà phòng thơm, muối, bột ngọt đều đem ra dùng rất tùy tiện, hoang phí nên chẳng còn cách nào khả dĩ hơn là tổ công tác phải tự quản lý mọi thứ và cấp cho bà con theo định lượng từng ngày mới mong giữ được gạo muối cho bà con no lòng, giữ được hạt giống để gieo trồng cho vụ sau. Thế mới biết, trong mỗi hạt giống bà con gieo xuống ruộng chiều nay, trong mỗi nắm cơm bà con mang theo để ăn lúc đói lòng khi lao động như lúc này đã chứa đựng biết bao tình cảm, trách nhiệm và cả hi vọng của những người lính đang gánh vác trách nhiệm cao cả là đưa bà con trở về hòa nhập trong đời sống cộng đồng, để các vụ mùa trên 10ha đất thung lũng Rục Làn rực màu vàng lúa chín, năng suất đạt gần 40tạ/ha. Thiếu tá, Đồn trưởng Đồn BP Cà Xèng Trịnh Thanh Bình vui mừng khẳng định: "Vụ lúa sau, anh em chiến sĩ sẽ động viên bà con khai hoang, mở rộng đất để giúp đồng bào Rục trồng lúa nước. Hướng tới sẽ khai hoang thêm hàng chục héc-ta để đồng bào đủ đất sản xuất. Bài toán lương thực cho người Rục, dù chưa hết khó khăn nhưng đã bắt đầu có lời giải. Chúng tôi cũng đề nghị với chính quyền địa phương phối hợp tổ chức thành lập hợp tác xã sản xuất và các tổ, đội sản xuất để dần đưa bà con vào nền nếp, quy tắc trong lao động".

Cứ dần từng bước một, diện mạo của những xóm bản người Chứt sau bóng núi Giăng Màn đã dần thay đổi. Trong báo cáo tổng kết hàng năm của các xã Lâm Hóa, Thượng Hóa, Thanh Hóa (Quảng Bình) hay Hương Liên (Hà Tĩnh) luôn có những con số cho thấy sự phát triển tương đối ổn định của những cộng đồng người Chứt tại địa phương. Các Chương trình 135, "Ngói hóa nông thôn", hay "Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo" đã khiến cho hầu hết những căn nhà của bà con được kiên cố hóa. Các gia đình đều được chia ruộng và rừng để làm kinh tế. Dẫu cũng còn đây đó đôi chút chưa thật hài lòng về kiểu dáng, kiến trúc chưa phù hợp với truyền thống của bà con, song cũng đã khiến cho những con người nặng lòng với những người anh em dưới bóng núi Giăng Màn thêm vững tâm về một tương lai lâu dài cho họ. 

Trong câu chuyện của đồng bào, có một cái tên luôn được nhắc đến với lòng biết ơn sâu sắc. Đó là Trung tướng Võ Trọng Việt, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh BĐBP. Ngày tìm thấy người Chứt lang thang trong rừng, ông Việt là Chỉ huy trưởng BĐBP Hà Tĩnh. Chính ông là người đã trực tiếp xây dựng phương án đưa người Chứt về với cộng đồng. Ông cũng trài qua những năm tháng lặn lội vào rừng sâu để đưa từng hộ dân về nơi định cư mới. Với tầm nhìn bao quát và thận trọng, ông đã đề ra từng biện pháp thật sát thực để anh em cán bộ, chiến sỹ thực hiện, từng bước cứu vãn một tộc người trước nguy cơ tan rã. Hiện nay, dù bận trăm công nghìn việc, nhưng tấm lòng của ông đối với dân bản Rào Tre vẫn vậy, vẫn thật chân thành, giản dị và biết mấy yêu thương. Ngày Trung tướng Võ Trọng Việt về thăm lại Rào Tre, bà con bảo nhau thu xếp việc nhà để ra đầu bản ngóng chờ từ sớm. Bà con biết vị Tướng của họ lúc này có nhiều trọng trách lớn lao hơn với đất nước, với nhân dân, ông còn phải đi đến nhiều vùng miền, lo cho người dân ở các bản Thái, bản Mông, bản Khơ Mú, Xinh Mun, Xtiêng... trên khắp vùng biên giới nơi đâu cũng được no ấm như bản Rào Tre, trẻ con nơi đâu cũng được đến trường như cái Xuân, thằng Kham...

Thung lũng Rục Làn đang vào mùa lúa mới. Những vạt rừng dó bầu ở Hương Liên hứa hẹn sẽ cho trầm. Những đứa trẻ người Rục, người Mày hay Mã Liềng, Cọi, A Rem đang vui chân sáo tới trường, lòng luôn nhớ lời của các chú biên phòng rằng, người Kinh, người Chứt, người Mông, người Dao hay người Vân Kiều đều là anh em, cùng là đồng bào nên phải yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, cùng chung tay bảo vệ Tổ quốc. Và mỗi ngày, dòng nước Rào Tre, Rào Cái, Hà Nôông lại rì rào chảy qua những vách đá, bãi bồi và cả những vạt lau lách hai bên bờ. Nó đang mang câu chuyện về sự hồi sinh của một dân tộc nơi núi rừng biên ải để kể cho những miền đất xa xôi mà những dòng nước ấy đang tới.

Bài 10: Nề nếp Bố Y
Phạm Vân Anh

Bình luận

ZALO