Biên phòng - Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc ta đã hiến dâng tuổi thanh xuân và cả cuộc sống của mình cho đất nước. Như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Những hy sinh và công lao to lớn đó đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi”. Đọc lại những vần thơ xúc động, chúng ta càng thêm tự hào dân tộc và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ cha anh, nâng cao tinh thần quyết tâm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Khi Chiến dịch Thu Đông năm 1947 diễn ra, Hoàng Lộc tình nguyện ra mặt trận, cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt với những người lính chiến, đã có những vần thơ thật xúc động: “Hôm qua còn theo anh/Đi ra đường quốc lộ/Hôm nay đã chặt cành/Đắp cho người dưới mộ” (Viếng Bạn). Nhà thơ Thanh Hải ca ngợi về một cái chết anh hùng của một thanh niên trẻ sẵn sàng chấp nhận hy sinh trong một cuộc đấu tranh đòi miễn thuế. Giặc đốt lửa thiêu anh.
Với khí phách anh hùng, anh nói thẳng vào mặt bọn chúng cái chân lý của người cách mạng: “Miệng anh vẫn một lời/Cộng sản cũng là người/Cộng sản không da đồng/Cộng sản không xương sắt/Nhưng cộng sản sẵn sàng/Chết cho nước không mất/Chết cho đồng bào còn/Chết cho cháu cho con…” (Núi vẫn nhớ, người vẫn thương).
Và còn hơn thế nữa, sau cái chết của người chiến sĩ đã khơi dậy niềm căm thù và lòng tiếc thương vô hạn của nhân dân. Cái chết không âm thầm lạnh lẽo, trái lại: “Ði theo sau hồn anh/Cả làng quê đường phố/Cả lớn nhỏ, gái trai/Ðám càng đi, càng dài/Càng dài càng đông mãi” (Mộ anh hoa nở). Màu hoa hồng thắm trên mộ anh là màu hoa của ngày chiến thắng: “Mộ anh trên đồi cao/Cánh hoa này em hái/ Cành hoa này chị đơm/Cây bông hồng em ươm/Em trồng vào trước cửa/Mộ anh trên đồi cao/Hoa hồng nở và nở/ Hương thơm bay và bay.../Trên mộ người cộng sản/Hoa hồng đỏ và đỏ/Như máu nở thành hoa” (Mộ anh hoa nở).
Trong cuộc chiến đấu, có những chiến sĩ ngã xuống. Các anh đã hy sinh cuộc sống cao đẹp nhất cho dân tộc. Những chiến sĩ không tên vẫn yên giấc ngàn thu trên mảnh đất lành của Tổ quốc. Thơ Lê Đức Thọ đã ghi lại chân thực hình ảnh mồ chiến sĩ không tên với tình cảm trân trọng, yêu thương: “Giữa rừng nắm đất còn tươi/Mồ ai mưa gió ai người viếng thăm/Anh vui giấc ngủ ngàn năm/Thương anh ngày tháng hờn căm chất chồng” (Mồ chiến sĩ không tên).
Và gần gũi hơn, các anh vẫn luôn sống mãi trong lòng dân tộc, nhân dân biết ơn các anh đã hy sinh xương máu để đem lại độc lập, tự do cho Tổ quốc:“Ngày vui Tổ quốc nhớ anh/Chiến công này có công anh góp phần” (Mồ chiến sĩ không tên).
Chính Hữu là một trong số những gương mặt tiêu biểu của lớp nhà thơ hình thành trong kháng chiến chống Pháp. Chính Hữu viết về cái chết của đồng đội với một giọng thơ hào sảng mà không bi lụy: “Bạn ta đó/chết trên dây thép ba tầng”(Giá từng thước đất). Câu thơ cắt ngang tạo hình rất ấn tượng. Chính Hữu đã phác họa vẻ đẹp hùng tráng của người chiến sĩ khó có tượng đài nào chạm khắc nổi: “Một bàn tay chưa rời báng súng/Chân lưng chừng nửa bước xung phong/Ôi những người mỗi khi nằm xuống/Vẫn nằm trong tư thế tấn công”(Giá từng thước đất).
Trong bài “Trường ca Ba dan khát”, Thu Bồn đã khái quát được nỗi khát khao giải phóng của người dân Tây Nguyên gắn với sự đổi thay một phương thức sản xuất, mà sự đổi thay ấy phải trả giá bằng sự mất mát, hy sinh của bao thế hệ: “Có thể anh chẳng bao giờ nhìn thấy/một làn môi em hay một nụ cười/nhưng tất cả sẽ trở thành vô nghĩa/nếu mồ bia kia không gọi được mặt trời” (Trường ca Ba dan khát).
Cuộc khởi nghĩa tháng 11 năm 1940 của nhân dân Nam bộ tuy bị thất bại, nhưng hình ảnh những người đảng viên cộng sản Đông Dương luôn tỏa sáng, không sợ gian khổ, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Những chiến sĩ cộng sản kiên trung như Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần... trước cái chết vẫn hiên ngang, miệng hô vang: “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm” cho đến khi súng nổ. Khí tiết đó đã đi vào trong những vần thơ của cố nhà thơ Tố Hữu: “Các anh chị bước lên đài gươm máy/Đầu sắp rơi mà môi vẫn cười tươi/Chỉ còn đây một giây sống nữa thôi/Mà mắt đó vẫn trông đời bình thản” (Quyết hy sinh - Tố Hữu).
Chúng ta cũng vô cùng xúc động trước tinh thần lạc quan, kiên định của các bà, các mẹ, các chị trong cuộc chiến không khoan nhượng với kẻ thù. Cuộc đời của bà mẹ Tơm - một cuộc đời lặng lẽ, âm thầm mà rất đẹp: “Sống trong cát, chết vùi trong cát/Những trái tim như ngọc sáng ngời”(Mẹ Tơm). Mẹ Suốt, bà mẹ Việt Nam anh hùng, người đã không quản mưa bom bão đạn đưa bộ đội qua sông Nhật Lệ - Quảng Bình trong những năm 1965 – 1966: “Tàu bay mày bắn sớm trưa/Thì tui cứ việc sớm trưa đưa đò…/Mẹ đi trọn một đời mình/Sông bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…” (Mẹ Suốt - Tố Hữu). Lê Đức Thọ đến với “Khúc ruột miền Trung”, ông cũng nhớ đến những người đã ngã xuống nơi đây, nhớ đến mẹ Suốt anh hùng:“Đò xưa vắng bóng mẹ rồi/Nhìn sông nhớ mẹ, ngậm ngùi xót xa/Quân thù đã giết mẹ ta/Một đêm mưa gió máu hòa dòng sông/Mẹ về với những chiến công/Ghi trang sử đẹp anh hùng Bảo Ninh (Nhớ mẹ).
Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trở thành một mảng lấp lánh trong thơ Lê Anh Xuân. Tiếng thơ ngợi ca người anh hùng cũng trở nên hết sức tự nhiên, chân thực. Trên quê hương Bến Tre và Nam bộ thành đồng, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ấy, có biết bao con người, cuộc đời để Lê Anh Xuân chiêm ngưỡng, ngợi ca. Một điều may mắn là, ngay từ khi mới trở về quê hương, anh được tham dự Đại hội Anh hùng toàn miền Nam lần thứ nhất.
Nhà thơ vui sướng, tự hào khi được “Ngồi giữa bốn bề đỏ rực/giữa những đóa hoa trên ngực anh hùng”, được tiếp xúc những vẻ đẹp cao quý của nhiều con người, đến từ nhiều nơi khác nhau và “Thấy mặt mình hồng thêm sắc đỏ/ Thấy ngày mai rực rỡ trời hồng” (Gặp những anh hùng). Trên mảnh đất miền Nam thành đồng Tổ quốc, không chỉ người lớn mới đánh giặc mà tuổi thơ cũng góp sức mình vào sự nghiệp giải phóng quê hương.
Và đây, một em nhỏ đưa đò trên sông Cổ Chiên (sông bắt đầu từ thành phố Vĩnh Long) giữa sông gặp giặc liền lao mình qua tàu giặc ném thủ pháo: “Tàu thù vừa ập đến nơi,/Em Trì tôi đã ngang trời đứng lên./Lời em vút ngọn sóng rền,/Thanh thanh như tiếng chim chuyền cành xanh./Bác Hồ ơi, cháu hy sinh!/Nói rồi em vụt lao nhanh qua tàu” (Ánh lửa trên sông). Lê Anh Xuân kể chuyện một chiến sĩ giải phóng quân bị hy sinh nhưng vẫn giữ nguyên tư thế tấn công, anh gọi đấy là: “Từ dáng đứng của anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt/Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân” (Dáng đứng Việt Nam).
Trong thơ Giang Nam, các em đóng góp rất nhiều. Có những em nhỏ ở An Ninh đã hy sinh anh dũng tuyệt vời. Giang Nam viết về các em nhỏ cũng đã bằng những lời thơ bồi hồi cảm xúc: “Giặc giết các em rồi! không một tiếng la rên/Các em ngã như những người chiến đấu...Ôi tuổi chín mười cũng hy sinh:“Tôi bị thương rồi, để tôi nằm lại...”(Từ An Ninh, một núi lửa căm thù).
Chúng ta không thể nào cầm được nước mắt khi được nghe kể về tinh thần chiến đấu anh dũng quật cường của các chiến sĩ giải phóng quân trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ. Lê Bá Dương, chiến sĩ quân giải phóng tại Thành cổ Quảng Trị và hiện là nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh thuộc Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam khi trở lại thăm chiến trường xưa, đã mang đầy một chiếc thuyền hoa để rải xuống dòng sông Thạch Hãn để tưởng nhớ và tiếc thương những người đồng đội của mình.
Trong cái thời khắc thiêng liêng giao hòa giữa đôi bờ hư ảo ấy, những câu thơ gan ruột trong tâm hồn người nghệ sĩ, chiến sĩ Lê Bá Dương đã vụt sáng, lấp lánh trên dòng sông lịch sử này: “Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ/Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/Có tuổi hai mươi thành sóng nước/Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm”(Lời người bên sông).
Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Việt Chiến trong lần tham dự trại sáng tác do Tạp chí Văn nghệ Quân đội phối hợp với Cục Chính trị Quân chủng Hải quân tổ chức với đề tài sáng tác về “Biển, đảo và người chiến sĩ Hải quân”, đã có những vần thơ tri ân những người lính đã hy sinh để bảo vệ đảo Gạc Ma (Trường Sa) năm 1988: “Họ đã lấy ngực mình làm lá chắn /Để một lần Tổ quốc được sinh ra…/Họ đã lấy thân mình làm cột mốc/Chặn quân thù trên biển đảo quê hương.../Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy/Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân/Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả/Những chàng trai ra đảo đã quên mình” (Tổ quốc nhìn từ biển - Nguyễn Việt Chiến).
Tất cả chúng ta, những người sinh ra trên trên đất nước ngàn năm Văn hiến này đều tự hào rằng, dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng, với khí phách kiên cường, quyết chiến, quyết thắng mọi kẻ thù xâm lược và mỗi tấc đất đều thấm đẫm xương máu các thế hệ cha anh góp phần làm cho Tổ quốc ta “nở hoa độc lập, kết quả tự do”. Đúng như nhà thơ Lê Anh Xuân đã ngợi ca: “Mỗi mảnh đất dưới chân người ngã xuống/Nở rộ những bông hoa thơm ngát tình đời”.






