Biên phòng - Nếu hình ảnh ông Trương Văn Tuyến luôn gắn bó với công trường Dung Quất đổ lửa ngay từ những ngày đầu tiên, thì Tiến sĩ Trương Đình Hiển là một nhà khoa học chân lấm, tay bùn, lặn lội đo vẽ để khai sinh ra hệ thống cảng biển miền Trung và cảng nước sâu Dung Quất.
Bài 2: Người "đặt viên gạch đầu tiên" cho Dung Quất
Ăn khoai lang, tính chuyện cảng
Ngày 25-2-2014, Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất tổ chức kỷ niệm 5 năm Ngày cho ra đời dòng sản phẩm đầu tiên. Trong số những quan khách các nơi về dự, rất nhiều người đã có công đặt viên gạch đầu tiên xây dựng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Một trong những người góp phần khai sinh vùng đất hoang vu này trở thành điểm sáng trên bản đồ miền Trung, đó là Tiến sĩ Trương Đình Hiển, nghiên cứu viên cao cấp, chuyên gia về động lực học biển và công trình thềm lục địa.
Đứng lặng lẽ và quan sát khung cảnh xung quanh, ông Hiển liên tưởng lại câu chuyện cách đây hơn 20 năm về trước. Đó là năm 1992, khi ông đặt chân đến Dung Quất, nơi đồi cát mênh mông, gai góc ngang dọc. Ông đã đặt vấn đề với lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi về việc khảo sát cảng nước sâu để xây dựng công trình biển. Tiếp đón nhà khoa học trong không khí nóng hừng hực của miền Trung, một vị lãnh đạo nói thật bụng rằng: "Không có triển vọng tốt đẹp nào cả. Có nhiều đoàn đã đến đây rồi lại đi. Một đoàn vừa mới đến ở 100 ngày, đi nhiều chuyến lên rừng xuống biển, sau đó họ gửi lại hồ sơ với bản kết luận là Quảng Ngãi không có vịnh nước sâu, không thể phát triển cảng biển". Kèm theo đó là lời khuyên nên đầu tư vào nông nghiệp, trồng sắn, trồng khoai để xóa đói, giảm nghèo và xin Trung ương hỗ trợ thường xuyên.
| |
| Tiến sĩ Trương Đình Hiển (bên trái) và nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt. |
Ông Hiển lặng lẽ vác túi hành tiến về vùng biển để quan sát, nghiên cứu, mặc dù cán bộ tiếp ông nói rất thật là, tỉnh nghèo không có kinh phí để hỗ trợ. Từ thị xã Quảng Ngãi xuống vùng biển, dù chỉ 40km, nhưng là con đường đầy khổ ải vì không có điện, đường không ra đường. Suốt nhiều ngày trời, ông Hiển đã nghiên cứu dọc bờ biển để tính toán, đo, vẽ.
Vùng đất hoang và nghèo khó Dung Quất thời đó chỉ trồng được một loại cây, đó là khoai lang. Củ khoai lang trồng trên cát cho hương vị thơm ngon. Dân cư thưa thớt nên có thể trồng trọt những ruộng lang bạt ngàn. Và ông kỹ sư có dáng người gầy gò trở thành một người nông dân của vùng đất nghèo. Trong bữa cơm đạm bạc với gia đình người nông dân, Tiến sĩ Hiển được nghe bà con chia sẻ ước mơ thoát nghèo xa vời trên vùng đất nghèo khó. Cho đến một ngày, ông Hiển gần như reo lên khi nhìn thấy vùng nước sâu Dung Quất.
Phản biện cho Dung Quất
Vịnh Dung Quất qua nghiên cứu tự nhiên có diện tích mặt nước hàng chục ki-lô-mét vuông, độ sâu từ 10-20m, không kể thủy triều, hai trường gió chính là Đông Bắc và Tây Nam được che chắn, tàu bè có thể neo đậu quanh năm không bị sa bồi. Các tàu có trọng tải từ 150.000 - 200.000 tấn có thể ra vào trực tiếp từ biển. Nếu có 1,5km đê chắn sóng ở mũi Co Co, tổng chiều dài các bến cảng có thể phát triển lên 19,8km, công suất cảng đất 100 triệu tấn/năm.
Dung Quất có thể tiếp cận với đường sắt, đường bộ xuyên Việt, đường 24 đi lên Tây Nguyên, sang Lào, Cam-pu-chia và Thái Lan, đường điện quốc gia, đường cáp quang và hệ thống thông tin quốc gia, cách sân bay Chu Lai 7km… Đó là những trang tư liệu khoa học của ông Hiển.
Tháng 10-1992, những cơn mưa tầm tã đổ xuống miền Trung không ngớt. Đó là những ngày cuối cùng ông Hiển và người đồng sự là kỹ sư Bùi Quốc Nghĩa lặn lội từ biển lên rừng và hoàn thành phần cuối cùng của đề án. Tập báo cáo tóm tắt "Dự án chọn địa điểm cảng biển nước sâu Dung Quất" được gửi đến UBND tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 15-10-1992.
Nhiều người nửa tin nửa ngờ về việc Dung Quất xây dựng được cảng nước sâu. Nhưng sau đó, Công ty Tư vấn Sanyu và Công ty Tư vấn Unico Internationat của Nhật Bản đã thẩm định và đánh giá cao. Khi các đơn vị này làm việc tại TP Hồ Chí Minh, ông Hiển mời lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi vào để nghe báo cáo kết quả nghiên cứu. Đoàn kết luận, cảng Dung Quất lớn hơn cả cảng Nagoiya của Nhật Bản.
Hồ sơ được gửi ra Văn phòng Chính phủ vào ngày 18-12-1992. Đến ngày 10-1-1993, Phó Thủ tướng Thường trực Phan Văn Khải đã về Quảng Ngãi và nghe Tiến sĩ Trương Đình Hiển trực tiếp báo cáo. Đến tháng 9-1994, Thủ tướng Võ Văn Kiệt thị sát biển nước sâu và Khu kinh tế Dung Quất. Bước chân của Thủ tướng đã ngang dọc trên vùng đất hoang vu mà trong tầm nhìn của ông là địa thế đầy triển vọng của vùng đất miền Trung đầy nắng lửa. Nhìn cảnh biển trời, núi non xanh rì và hoang sơ, Thủ tướng đã thốt lên: "Đẹp quá, như nàng tiên ngủ say!".
Cống hiến cả đời
Năm 29 tuổi, Tiến sĩ Trương Đình Hiển từ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô trở về. Trải qua hàng chục cơ quan, đến lúc gần 50 tuổi, ông mới tìm được con đường thực tiễn phát triển đất nước. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học về biển của ông thời đó không được tài trợ, ông và cộng sự đã phải vay 20 cây vàng để mua máy vi tính, máy scan phục vụ công tác nghiên cứu. Ông chia sẻ: "Nhà nước cho tôi đi học từ năm 1967, còn bạn bè vào Nam chiến đấu hy sinh hết, không còn ai. Giờ mình còn sống thì càng phải cống hiến". Ông khóc và nhắc đến những người bạn đã hy sinh, đó là: Lê Anh Xuân, Chu Cẩm Phong, Nguyễn Phước Lộc (con trai Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Văn Hưởng).
Tiến sĩ Trương Đình Hiển đã nhận được nhiều phần thưởng của Đảng và Nhà nước. Nhưng phần thưởng mà người dân nghèo Quảng Ngãi tặng cho nhà khoa học, đó là những bà nông dân nghèo níu áo ông để thết đãi rổ khoai lang, người hỏi thăm sức khỏe, người sửa giày xin không lấy tiền "vì chúng tôi đã biết mặt ông trên ti vi, nhờ ông Hiển mới có cảng nước sâu xây dựng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất cho quê mình đỡ nghèo…".
Năm 1992, khi đặt chân đến Dung Quất, nhà khoa học Trương Đình Hiển 51 tuổi. Ngày 25-2-2014, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất tổ chức sự kiện "5 năm ra dòng sản phẩm đầu tiên" thì ông đã 72 tuổi. Những người thợ trẻ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất thường kể về ông Hiển "nhắc đến việc xây dựng và khánh thành Nhà máy Lọc dầu Dung Quất là ông già Hiển rơi nước mắt, lên phát biểu, ông Hiển gạt nước mắt rồi mới nói được".
"Học ở Nga về, chắc ông biết bài hát "Thời thanh niên sôi nổi" của A-lếch-xan-đra Pa-khơ-mu-tô-va"? Nghe tôi hỏi, ông cười, nét mặt rạng ngời khi nhắc lại thời trẻ ở xứ sở Bạch dương, nuôi khát vọng trở về cống hiến cho đất nước. Thời đó cho đến tận bây giờ, trong trái tim ông luôn vang vọng lời ca: "Dù sương, gió, tuyết rơi… chúng ta dồn chân lên đường xa".







