Biên phòng - Như thường lệ, cứ đến đầu tháng 3 lịch sử là các cựu chiến binh (CCB) Tiểu đoàn đặc công 408 lại tề tựu về Pleiku (Gia Lai) để gặp mặt, ôn lại truyền thống của một thời vào sinh ra tử, nếm mật, nằm gai. Được nghe họ kể về những kỷ niệm chiến trường, chúng tôi không khỏi bồi hồi, xúc động.
| |
| Cựu chiến binh Tiểu đoàn 408 tổ chức ôn lại truyền thống đơn vị. Ảnh: Xuân Hoàng |
Chiến trường Gia Lai đầy khói lửa trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ không làm chùn bước đôi chân của nữ y tá Trà Thị Xuân Hồng (SN 1947, quê quán Bình Định). Năm 1968, khi đang công tác tại Thành ủy Pleiku, nữ y tá Xuân Hồng nhận được lệnh vào chiến trường phục vụ chiến đấu. Hơn 6 năm phục vụ chiến đấu tại Tiểu đoàn đặc công 408, y tá Hồng đã sơ cứu cho hàng trăm thương binh nơi chiến trường và cũng là người trực tiếp làm nhiệm vụ chuyển thương binh về tuyến sau.
"Chiến trường ngày ấy ác liệt lắm, tôi làm y tá, không chỉ làm nhiệm vụ sơ cứu thương binh, mà còn phải chăm sóc, lo cái ăn cho họ. Lương thực được cấp phát thường phải dành hết cho thương binh, còn phần mình, kiếm được gì ăn cái đó. Có lúc, 3 ngày liền tôi chỉ ăn chuối xanh. Nhiều trận đói ghê lắm. Đói đến mức ăn cả cây môn dù, ăn vào rồi là ngứa, cào xước cả cổ lẫn tay chân" - Bà Hồng kể với chúng tôi.
Khi được đề nghị kể về những hiểm nguy trong cuộc chiến, bà Hồng cười: "May lắm tôi mới sống được đến ngày hôm nay. Số lần suýt chết không thể đếm hết. Một lần, bom Mỹ đánh sập hầm, tôi bị thương, đồng đội đưa về tuyến sau, nhưng tôi xin ở lại vì nghĩ rằng còn nhiều đồng đội bị thương nặng hơn mình, bản thân làm y tá, đi rồi ai sẽ giúp thương binh?…".
Một chiến công đáng tự hào
Trong kháng chiến chống Mỹ, ở Gia Lai, anh em chiến sỹ thường bảo nhau: "Đi với ai thì sợ chứ đi với trinh sát Hùng thì không phải sợ bất cứ thứ gì". Trinh sát Hùng chính là Thượng sỹ Lê Mạnh Hùng (SN 1954, quê Thanh Hóa), nguyên là Tiểu đội trưởng trinh sát Đại đội 70, Tiểu đoàn đặc công 408. Một ngày vào thời điểm cuộc chiến diễn ra ác liệt (1972), ông dẫn Đại đội 80 đi đánh kho đạn của địch ở Biển Hồ. Sau 3 lần vào trinh sát, trinh sát Hùng phát hiện cái khó là kho nửa chìm nửa nổi này có 2 lớp bảo vệ kiên cố, trong là cửa lưới thép gai, ngoài là cửa sắt kiên cố.
Ngày 14-8-1972, trận đánh chính thức diễn ra, lực lượng của ta chia làm 3 mũi, mỗi mũi 3 đồng chí. Trinh sát Hùng đánh mìn phá cửa để đồng chí Nguyễn Tạo chui vào trong đặt quả bộc phá đánh kho. Đến lúc chui ra, lỗ trên cửa ấy tương tự cái hom giỏ bắt cá, khiến Nguyễn Tạo vào được nhưng ra không được. Tình thế vô cùng nguy hiểm vì 3m dây sẽ cháy chậm trong 3 phút, kho thì chứa hàng trăm tấn đạn.
Lúc này anh em tập trung bẻ từng miếng sắt, tìm cách lôi đồng chí Tạo ra. Khi thoát ra được, khắp người ông đầy máu. Khi rút lui được đến hàng rào thì kho đạn nổ. Qua báo chí ngụy, ông và đồng đội được biết, kho đạn nổ suốt 17 tiếng đồng hồ, bắt đầu từ 11 giờ đêm đó đến 16 giờ hôm sau.
Trận đánh tạo đà chiến thắng
Người Đại đội trưởng Đại đội 70 - Thiếu úy Chu Quang Tùy (SN 1942), hiện trú tại TP Plâyku nhớ rất kỹ những câu chuyện về đồng chí Lê Hữu Đạt - biệt danh "vua phá mìn", người đã tự tay phá gỡ trên 1.000 quả mìn các loại, góp phần giảm tỉ lệ thương vong cho đồng đội xuống đến 80-90%; hay những câu chuyện về đồng chí Đỗ Xuân Giác - người 2 lần truy điệu sống trước khi xung phong cảm tử đánh vào sân bay Cù Hanh và kho đạn Yên Thế…
Trong buổi gặp mặt hôm nay, Đại đội trưởng Tùy như bị câu chuyện chiến tranh cuốn hút. Ông say sưa kể lại: "Ngày 6-11-1969, Tiểu đoàn 408 chủ động tấn công cụm căn cứ hỗn hợp Mỹ Thạch. Nơi đây được bao quanh bởi 12 lớp rào kẽm gai, bên trong có hệ thống công sự, hầm ngầm, trận địa pháo dày đặc. Lực lượng tiến công của Tiểu đoàn gồm 3 đại đội với 112 đồng chí. Sau hơn 1 giờ nổ súng đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên địch, phá sập 30 nhà lính, phá hủy 15 hầm ngầm, lô cốt, 8 khẩu pháo 105mm, 1 xe thiết giáp. Trận đánh đã tạo đà thuận lợi cho phong trào phá ấp, giành dân, mở rộng vùng giải phóng trên địa bàn 2 huyện 5 và 6 của tỉnh Gia Lai thời đó".
Chiến công nối tiếp chiến công, tháng 4-1970, Đại đội 60 của Tiểu đoàn 408 sử dụng một mũi 17 đồng chí, chia làm 4 tổ, trang bị súng bộ binh, thủ pháo, bí mật tập kích liên đoàn biệt động ngụy. Sau 15 phút nổ súng đã làm chủ chiến trường, loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên địch, đốt cháy 4 nhà kho (3 kho xăng, 1 kho đạn) khoảng 2 triệu lít xăng dầu.
"Ấn tượng nhất với tôi, đó là những ngày tháng 3 lịch sử năm 1975. Đêm 15-3-1975, Đại đội 70 đã tiến hành đột nhập đánh phá thành công các mục tiêu, phá hủy hết các phương tiện địch khiến chúng hoang mang, tán loạn. Sau trận tập kích ấy, nhận được thông báo địch ở Pleiku có dấu hiệu rút chạy, tôi ra lệnh cho một tổ khẩn cấp về hậu cứ của Tiểu đoàn ở xã Đắk Sơ Mei báo cáo và dẫn đường tiến về Pleiku.
Tổ trinh sát vào Tòa hành chính tỉnh, nhìn thấy lá cờ ba que trên nóc, tôi liền ra lệnh cho Thượng sỹ Lê Mạnh Hùng, mũi phó cùng làm nhiệm vụ cảnh giới, Trung sỹ Triệu La Phương, chiến sỹ trinh sát trèo lên nóc hành chính hạ lá cờ của địch và kéo lá cờ giải phóng lên. Lúc ấy là 16 giờ 30 phút, ngày 16-3-1975. Đây là sự kiện đánh dấu một bước ngoặt to lớn cho lịch sử của tỉnh Gia Lai để đến ngày 17-3-1975, nơi đây hoàn toàn giải phóng" - Thiếu úy Chu Quang Tùy hào hứng.
| Trong 8 năm (1967-1975), Tiểu đoàn đặc công 408 đã đánh 245 trận, tiêu diệt 8.300 tên địch, làm bị thương hơn 1.000 tên. Đơn vị đã phá hủy 151 máy bay các loại; 1.028 nhà, 281 lô cốt - hầm ngầm; phá hủy hơn 720 xe quân sự các loại; 16 kho với hơn 130.000 tấn bom đạn, hơn 50 kho xăng dầu với tổng cộng 13,45 triệu lít. Những thành tích đó đã làm nên trang sử vẻ vang của Tiểu đoàn đặc công 408, xứng đáng với danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân". |







