Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 08:32 GMT+7

Những người mang họ Bác Hồ

Biên phòng - Còn nhớ cách đây mấy năm, khi lần đầu gặp Hồ Trung Hiếu, tôi đã không nghĩ anh là người Vân Kiều. Ở người Bí thư Đảng ủy xã tuổi gần sáu mươi này có một nét gì đó mà ngay từ phút đầu gặp gỡ, tôi đã nhầm tưởng anh là một cán bộ người Kinh từ dưới xuôi lên công tác ở vùng cao này. Hồ Trung Hiếu có nụ cười thật rạng rỡ và khuôn mặt thật phúc hậu. Tôi có cảm tưởng rằng, cái chất lịch lãm, hào hoa của một nhà giáo vẫn như còn nguyên vẹn trong anh. Chả thế mà khi tiếp xúc với bà con dân bản, tôi nghe người dân ở ba xã miền núi Vĩnh Linh này vẫn gọi anh là thầy Hiếu. Và ngay cả lúc anh đang ngồi nói chuyện với tôi, một số cán bộ Ủy ban xã, khi có việc cần trao đổi với anh, họ đều lễ phép gọi anh là thầy. Họ đều là học sinh cũ của anh từ mười, mười lăm năm trước.

 59310b.gif
Tác giả và ông Mai Văn Dĩa, Bí thư Đảng ủy xã Vĩnh Hà.
Theo anh Hồ Trung Hiếu, ngày xưa khi giặc Pháp còn xâm lược, chúng cho quân đi càn quét, lùng sục, tìm bắt cán bộ Việt Minh từ dưới xuôi lên đây ẩn náu hoạt động ở vùng núi này. Quân Pháp đi đến đâu là đốt nhà, cướp của, giết người đến đấy.

Người Vân Kiều từ già, trẻ, gái, trai đều phải bỏ làng bản, ruộng nương sống chui lủi, lén lút trong rừng sâu. Họ phải ăn rau rừng, măng tre trừ bữa quanh năm. Vậy rồi, ở một bản thuộc xã Vĩnh Khê có một người đàn ông Vân Kiều dũng cảm đứng lên kêu gọi nhân dân đi theo Việt Minh chống Pháp. Người đàn ông ấy không ai biết tên, chỉ thấy gọi là ông Tóc Bối.

Người Vân Kiều đồn nhau rằng: Ông Tóc Bối có khổ người rất cao to, vạm vỡ, khuôn mặt rất tuấn tú, phương phi. Tiếng ông nói vang như chiêng, rền như sấm. Lông mày và râu ông rất đen và rậm. Còn tóc ông thì để dài bối thành bối sau gáy nên mới có tên gọi là ông Tóc Bối. Ông Tóc Bối nổi tiếng là người khoẻ mạnh và thạo cung nỏ. Ông có thể dùng tay không quật chết một con bò và bắn cung trăm phát trăm trúng.

Ông Tóc Bối quy tụ trai tráng Vân Kiều trong tất cả các bản làng lại rồi thành lập đội vũ trang, trang bị giáo, mác, cung, nỏ... luyện tập quân sự đánh lại Pháp. Ông còn kêu gọi người Vân Kiều không tiếp tế lương thực cho Pháp, không đi lính cho Pháp. Bọn Pháp sợ lắm! Chúng một mặt treo giải thưởng cho ai giết được ông, một mặt lùng sục tìm bắt ông. Đồng bào Vân Kiều che giấu, bảo vệ và đi theo ông chống lại Pháp ngày càng đông. Rồi ở xã Vĩnh Ô có một đội vũ trang do hai ông Hồ Tá, Hồ Niệc chỉ huy ra đời. Ở xã Vĩnh Hà cũng có các ông Hồ Pức, Hồ Hăng, Mai Văn Xăng đứng ra kêu gọi nhân dân đánh giặc Pháp. Cả núi rừng miền Tây Vĩnh Linh đâu đâu cũng có hầm chông, bẫy đá... do người Vân Kiều dựng lên chờ quân Pháp đến.

Đội vũ trang của các ông Tóc Bối, Hồ Tá, Hồ Niệc, Hồ Pức... thì thoắt ẩn, thoắt hiện, đánh cho quân Pháp nhiều trận tơi tả. Quân Pháp không còn ngang nhiên càn quét, lùng sục như trước nữa. Rồi bộ đội từ dưới xuôi hành quân lên lập căn cứ kháng chiến. Bà con Vân Kiều từ rừng sâu trở về làng bản tăng gia sản xuất, che chở cho bộ đội, du kích đánh giặc. Người Vân Kiều đã đi theo Đảng, theo cách mạng cho đến ngày kháng chiến thắng lợi.

Rồi họ lại cùng nhau xây dựng quê hương. Nhưng hoà bình chưa được bao lâu thì giặc Mỹ lại nhảy vào miền Nam. Rừng núi Vĩnh Linh tiếp giáp với sông Bến Hải, trở thành căn cứ kháng chiến và cũng là nơi giặc Mỹ tung bọn biệt kích, thám báo từ Lào sang, từ Nam ra hoạt động chống phá ta. Máy bay của Mỹ cũng chọn vùng rừng núi Vĩnh Linh làm mục tiêu ném bom để cắt đứt con đường Trường Sơn chi viện cho tiền tuyến lớn của ta. Các ông Tóc Bối, Hồ Tá, Hồ Niệc, Hồ Pức, Hồ Hăng, Mai Văn Xăng... lại tiếp tục chỉ huy các đơn vị dân quân của Vĩnh Khê, Vĩnh Ô, Vĩnh Hà anh dũng chiến đấu đánh trả máy bay và biệt kích Mỹ.

Qua anh Hiếu, tôi còn được biết thêm: Ông Tóc Bối sau này đã trở thành Chủ tịch Ủy ban kháng chiến đầu tiên của hai xã miền núi Vĩnh Khê, Vĩnh Hà và là cậu ruột ông Hồ Ray. Ông Hồ Ray cũng theo cậu mình tham gia kháng chiến và hoạt động cách mạng ngay từ những ngày ấy. Rồi sau này, ông Hồ Ray trở thành Bí thư Huyện ủy huyện Hướng Hoá, Trưởng ban Dân tộc và Miền núi tỉnh Bình - Trị - Thiên trước đây và tỉnh Quảng Trị sau này.

Ông Hồ Ray có người con gái là chị Hồ Thị Hồng từng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đakrông và là đại biểu Quốc hội khoá X. Các ông Hồ Tá, Hồ Niệc, Hồ Hăng, Mai Văn Xăng sau này đều trở thành những cán bộ chủ chốt của hai xã Vĩnh Ô, Vĩnh Khê. Riêng ông Hồ Hăng còn là Khu ủy viên Khu ủy Vĩnh Linh và là một trong ba thành viên của đoàn đại biểu Quốc hội khoá III của Vĩnh Linh.

Ông Hồ Hăng đã vinh dự được gặp Bác Hồ nhiều lần và được Bác hỏi chuyện, căn dặn nhiều điều. Ông Hồ Tá có người con trai là ông Hồ Trường đang làm Chủ tịch Hội Nông dân xã Vĩnh Ô và ông Mai Văn Xăng cũng có người con trai là ông Mai Văn Dĩa đang làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hà. Còn ông Hồ Pức có một người con liệt sĩ là anh Hồ Xa Rảng, dân quân xã Vĩnh Khê hy sinh ngày 2-7-1968, trong khi làm nhiệm vụ đuổi bắt phi công Mỹ nhảy dù.

Theo Hồ Trung Hiếu và Mai Văn Dĩa, tôi đến thăm cụ Hồ Pức. Cụ Hồ Pức đã hơn một trăm tuổi và đã yếu lắm rồi! Theo người nhà cụ cho biết thì cách đây một năm, cụ vẫn còn rất khoẻ và rất minh mẫn. Ai đến chơi nhà cụ, cụ cũng đem chuyện người Vân Kiều quê cụ đánh giặc năm xưa ra kể cho nghe. Cụ kể nhiều về các ông Tóc Bối, Hồ Tá, Hồ Niệc... Đến đoạn nào cảm động, cụ thường ôm mặt khóc. Cụ rất ít nói về người con trai của cụ, Liệt sĩ Hồ Xa Rảng. Nhưng tấm bằng Tổ quốc ghi công cấp cho gia đình cụ lại được cụ treo ở nơi trang trọng nhất trong nhà. Ở đấy còn có ảnh Bác Hồ và những tấm huân chương, huy chương Nhà nước tặng cụ. Tôi đã không nói chuyện được với cụ vì cụ đã không còn nghe được, nói được.

Trở lại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, tôi hỏi Hồ Trung Hiếu về trường hợp hy sinh của Liệt sĩ Hồ Xa Rảng. Tôi đâu ngờ được rằng, cuộc vây bắt tên giặc lái Mỹ ba mươi tư năm trước ngay từ những giây phút đầu tiên đã trở thành trận chiến đấu quyết liệt, không cân sức giữa các chiến sĩ dân quân Vân Kiều với lực lượng Không quân Mỹ.

Ông Hồ Thanh, 61 tuổi, một già làng người Vân Kiều đã từng là dân quân xã Vĩnh Khê tham gia đuổi bắt tên phi công Mỹ nhảy dù ngày hôm ấy có mặt kể lại rằng: "Hôm đó, chúng tôi đang trực ở trận địa thì thấy một chiếc F4 của Mỹ bị quân dân Quảng Bình bắn hạ đang bốc cháy rơi xuống. Cùng với chiếc máy bay rơi là một cái dù được bung ra lơ lửng trên bầu trời. Đúng là một thằng phi công Mỹ từ máy bay nhảy dù. Tiểu đội trưởng Hồ Pờng ra lệnh cho chúng tôi đuổi bắt tên phi công. Thế là chúng tôi ôm súng vọt lên nhằm hướng cái dù mà băng rừng vượt suối tiếp cận đến. Không ngờ bọn Mỹ cũng nhận được điện cầu cứu của tên phi công. Chúng cho đủ loại máy bay gồm hơn chục chiếc bay đến vây quanh khu vực tên phi công vừa nhảy dù xuống. Rồi thì F4, AD6... quành đảo, ném bom, bắn rốc két. Trực thăng thì bay sát ngọn cây bắn đại liên như vãi trấu ra xung quanh. Cả một vùng rừng núi chìm ngập trong biển lửa. Chúng tôi theo lệnh của Hồ Pờng vừa đánh trả máy bay địch, vừa tìm cách bắt tên phi công. Bọn Mỹ trên máy bay cũng phát hiện thấy chúng tôi. Chúng một mặt bắn phá dữ dội để cản đường, một mặt chọn thời cơ để cứu đồng đội. Trận vây bắt kéo dài gần hai giờ đồng hồ mới kết thúc. Rút cục, Tiểu đội dân quân xã Vĩnh Khê đã có cả thảy năm người trúng đạn địch hy sinh. Năm người ấy là Hồ Xa Rảng, Hồ Xà Noàn, Hồ Xa Lả, Hồ Thị Phòng và Tiểu đội trưởng Hồ Pờng...".

 53110a.gif
Cao su tiêu điều của đồng bào Vân Kiều, xã Vĩnh Hà.

Tôi nhìn lên và nhận thấy hai giọt nước lăn ra từ khoé mắt Hồ Trung Hiếu. Già Hồ Thanh im lặng nhìn ra xa. "Trong số năm người ấy, tôi thương Hồ Pờng nhất" - Già Thanh cất giọng ngậm ngùi - "Đời anh ấy khổ từ tấm bé, cho đến lúc hy sinh chưa từng biết sung sướng là gì".

Nhà Hồ Pờng nghèo lắm; nghèo đến nỗi Hồ Pờng chỉ có 1 cái khố (xlair) duy nhất. Và vợ Hồ Pờng, Hồ Thị Mỵ cũng chỉ có duy nhất một cái váy (xân). Vợ chồng Hồ Pờng ngày đó có đứa con trai ba tuổi. Cả gia đình sống trong một túp lều nhỏ. Có một lần, một anh bộ đội người Kinh thương cho một mảnh vải màu xanh để may tấm khố mới. Hồ Pờng mừng lắm, anh chạy như bay về nhà khoe mảnh vải với vợ. Chị Mỵ cũng rất mừng vì thấy chồng mình sắp sửa có chiếc khố mới. Đang vui, chợt Hồ Pờng xịu mặt lại khi anh nhận ra chiếc váy vợ đang mặc có tới năm miếng vá. Anh hiểu đây là chiếc váy còn lành lặn nhất của vợ mình.

Từ ngày cưới Mỵ, đã bốn mùa rẫy trôi qua rồi mà vợ anh chưa từng được may một chiếc váy mới. Anh rất thương vợ nhưng vì anh quá nghèo. Hồ Pờng cầm mảnh vải trao cho vợ và nói: "Em lấy mảnh vải này may lấy chiếc váy mới mà mặc. Váy của em rách hết rồi kìa!". Chị Mỵ ngạc nhiên: "Thế còn anh lấy gì mà may khố? Khố của anh cũng có cái nào còn lành lặn đâu". Hồ Pờng chỉ vào chiếc váy vợ đang mặc, nói: "Em đưa chiếc váy em đang mặc cho anh, anh sẽ sửa nó lại thành chiếc khố của anh". Chị Mỵ lắc đầu nguầy nguậy: "Không được đâu, người ta cười chết!". Hồ Pờng giải thích: "Anh là đàn ông, cái khố có rách một tí cũng chẳng sao. Chứ em, đàn bà mặc thế người ta lại cười chê anh là không lo cho em". Hồ Pờng nói mãi chị Mỵ mới đồng ý trao chiếc váy rách của mình để lấy mảnh vải may chiếc váy mới.

Chừng nửa năm sau, trong một lần Hồ Pờng đi làm rẫy thì gặp một toán biệt kích do tên Nguyễn Văn Tỏ và Nguyễn Văn Biển cầm đầu từ Quảng Bình vào, đang tìm đường ra sông Bến Hải để trốn vào Nam. Hồ Pờng đã mưu trí lừa địch, bảo vợ canh chừng rồi tắt rừng chạy về báo với xã đội kịp thời đuổi theo bắt được chúng. Hai năm sau, Hồ Pờng hy sinh nhưng câu chuyện cảm động về mảnh vải và tình cảm của vợ chồng anh thì còn sống mãi trong lòng mỗi người dân Vân Kiều. "Người Vân Kiều chúng tôi đã đánh giặc như vậy đấy" - Hồ Trung Hiếu kết thúc câu chuyện.

Trong chuyến lên miền Tây Vĩnh Linh lần này, tôi còn được nghe kể nhiều chuyện về các anh, các chị Hồ Xan, Hồ Rường, Hồ Lâm, Hồ Phong, Hồ Nhường, Hồ Chường, Hồ Trai, Hồ Thị Lanh... Họ là những người Vân Kiều mang họ Bác Hồ - những người trong chiến tranh đã từng là bộ đội, dân quân, thanh niên xung phong... cả quãng đời tuổi xuân đã tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu ở đây, ngay chính trên mảnh đất miền Tây Vĩnh Linh này.

Và bây giờ trong hoà bình thì chính họ lại là những người đang đi đầu trong phát triển sản xuất xây dựng quê hương làng bản. Chuyện kể nào về thành tích, chiến công của họ cũng thấm đẫm yêu thương và phảng phất màu sắc huyền thoại. Bởi một lẽ rất giản đơn: Cũng như các ông Tóc Bối, Hồ Tá, Hồ Niệc, Hồ Pờng, Hồ Hăng, Mai Văn Xăng..., tất cả họ đều là người Vân Kiều, là dân nước Việt Nam, là người mang họ Bác Hồ.

Nguyễn Ngọc Chiến

Bình luận

ZALO