Biên phòng - Ngày lễ Nô-en ở các nước phương Tây là thời khắc quan trọng nhất và được trông đợi nhất trong năm. Trẻ con háo hức trông đợi ông già Nô-en mang đến các món đồ chơi ưa thích. Người lớn thì trao cho nhau những món quà bất ngờ. Đây cũng là một hình thức thêu dệt mối liên hệ xã hội và gia đình.

Trao quà ngày lễ Giáng sinh
Theo bà Mác-tin Pê-rốt, một nhà nghiên cứu nhân chủng - xã hội học ở Pháp, dù ngày lễ Nô-en xuất hiện từ rất lâu, nhưng quà Nô-en là một sáng kiến chỉ mới có từ thế kỷ XIX. Theo cuốn cẩm nang cách sống của nữ Nam tước Xtáp, khi tặng quà cho người nghèo nên tặng "một món đồ hữu ích giúp họ tiết kiệm chi tiêu", còn tặng cho người giàu là những món "vô ích hay, chí ít, một thứ gì đó mà họ có thể bỏ qua".
Ông bà là người tặng quà đầu tiên và trẻ em được ví như là những thiên thần bé nhỏ được nhận quà. Tập tục về sự qua lại này cho phép gắn kết các mối liên hệ trong gia đình. "Cùng với thời gian, mỗi người chúng ta sẽ phải luân chuyển từ vị trí này sang vị trí khác, xoay vòng thực hiện, ban đầu là từ vị trí trẻ con, rồi là cha mẹ, sau đến ông bà", bà Mác-tin nhấn mạnh.
Đi lễ đầu năm của người Nhật Bản
Hatsumode (đi lễ đầu năm) là việc đầu năm đi thăm các ngôi đền của người Nhật Bản, giống như tập tục hái lộc hay đi chùa vào dịp năm mới ở nước ta. Nói một cách chung nhất, đầu năm người Nhật đi thăm các ngôi đền để cầu mong cho sự bình yên và mạnh khỏe trong năm.

Đặc biệt là trong khoảng thời gian 7 ngày đầu năm mới, người Nhật gọi là Mát-xư-nu-chi, thì họ tin rằng nếu ai đi thăm đủ cả 7 ngôi đền lớn thờ 7 vị thần may mắn là Ê-bi-xư, Đai-cô-ư-ten, Bi-sa-mon-ten, Ben-giai-ten, Hô-tây, Phư-cư-rô-cư-giu, Giu-sô-gin thì người đó có đủ 7 vận may. Đó là làm ăn thịnh vượng, tài vận phát đạt, vận may, trí tuệ thông thái, đức hạnh, trường thọ và sự may mắn. Ngoài ra, một số người còn đi đến các ngôi đền để cầu nguyện cho những mục đích trực tiếp và thiết thực khác như là thi cử hay tình duyên...
Bisous - Văn hóa đặc biệt của người Pháp
Người Việt ta có câu "lời chào cao hơn mâm cỗ" để nhấn mạnh về tầm quan trọng của lời chào trong những cuộc gặp gỡ. Và cái bisous (chạm má) chính là lời chào rất đặc trưng của người Pháp nói riêng và các nước phương Tây nói chung.
Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp gặp gỡ đều dùng lời chào "bisous", dù nó rất phổ biến trong xã hội. Nếu bạn đi làm việc tại các cơ quan hành chính hoặc đối với giáo viên trong trường học, người Pháp chỉ chào thông thường (Bonjour, Bonsoir) hoặc bắt tay. Còn lại muôn vàn những cuộc gặp gỡ của người Pháp đều bắt đầu từ cái bisous. Mới gặp nhau: Bisous, chào nhau về: Bisous. Gặp bạn bè, tất nhiên là bisous. Gặp bố mẹ của bạn càng phải bisous, gặp hàng xóm lại bisous... Một ngày bạn bisous còn nhiều hơn số bữa bạn sẽ ăn trong ngày, đấy là một món ăn tinh thần của người Pháp. Từ hai người không quen biết sẽ trở nên rất thân thiết nếu qua một lần bisous.

Tuy nhiên, để thực hiện một cái bisous không phải là dễ dàng. Bạn không được phép vồ vập quá là thất lễ với người đối diện, nhưng cũng không được hờ hững quá khiến họ hiểu lầm mình không thích họ và tiếng kêu bisous phát ra phải vừa đủ vui tai. Cuối cùng là tuyệt đối không chạm môi vào má họ (bởi đây không còn là một cử chỉ xã giao nữa).
Việc bisous tưởng chừng như rất nhỏ, nhưng nó thể hiện rất rõ tính cách đặc trưng của người dân từng vùng. Người Pháp thường có câu: "Hãy cho tôi biết bạn bisous bao nhiêu cái, tôi sẽ cho bạn biết bạn ở vùng nào". Có những vùng chỉ bisous một cái, người dân vùng đó có phần hơi lạnh lùng, kín đáo. Thông thường người Pháp sẽ bisous hai cái vào hai bên má và có khoảng 60% người Pháp làm như vậy, như ở Pa-ri, Li-ông, đảo Coóc... Nhưng miền Nam Pa-ri lai bisous 3 cái và có những vùng bisous tới tận 4, 5 cái để bày tỏ lòng hiếu khách và đó là những người rất cởi mở và hướng ngoại, thường là những tỉnh ở phía Bắc nước Pháp.
Lễ cưới truyền thống ở Nga
Lễ cưới ở Nga theo truyền thống kéo dài 2 - 3 ngày, thường diễn ra vào mùa thu hoặc mùa đông, trong khoảng giữa những lễ ăn chay lớn. Thời gian phổ biến nhất diễn ra lễ cưới ở Nga là sau lễ Cây thông sinh và kéo dài đến lễ Tiễn mùa đông, nó được gọi là "svadebnik". Hiện nay, lễ cưới của thanh niên thường diễn ra vào mùa xuân, cuối hè hoặc mùa thu. Lễ cưới hiện đại cũng thường kéo dài.

Tục lệ làm lễ cưới tại nhà thờ trở nên phổ biến hơn. Tuy nhiên, theo luật pháp, nó chỉ có thể được tiến hành sau khi đã làm đăng ký kết hôn tại phòng hộ tịch. Lễ cưới là một nghi thức rất đẹp và xúc động. Khi đứng làm lễ, cô dâu, chú rể xin thề sẽ luôn chung thủy lúc hoạn nạn khó khăn cũng như lúc an nhàn. Người ta cho rằng, sau đó đôi vợ chồng nhận thức sâu sắc hơn sự phụ thuộc vào nhau và sẽ sống với nhau trong một thời gian dài vì nói chung, đạo Chính thống không cho phép ly hôn. Trước khi đăng ký, vị hôn phu phải "chuộc" cô dâu từ những vị khách, anh ta cũng phải trải qua những thử thách là một loạt những cuộc thi mà kết thúc người chồng chưa cưới, theo truyền thống, phải thanh toán với tất cả những người tham dự bằng tiền và quà.
Theo truyền thống, váy, nhẫn và giày cho cô dâu đều do chú rể mua, còn gia đình cô dâu đảm bảo của hồi môn cho cô. Đó là bộ đồ trải giường, bát đũa và đồ gỗ. Trên bàn tiệc cưới phải có những món ăn làm từ thịt chim, biểu tượng của một cuộc sống gia đình hạnh phúc. Bánh nướng trong ngày cưới ở Nga được gọi là "kurnik". Nó được chuẩn bị từ bánh tráng hoặc bột nhạt, có thịt gà, nấm, cơm đi kèm hoặc loại nhân khác.
Khi đôi vợ chồng mới cưới về nhà, theo truyền thống, mẹ chú rể đón họ bằng bánh mỳ-muối. Tất cả những vị khách đều theo dõi xem ai lấy miếng bánh to hơn: Người đó sẽ là chủ gia đình.
Tùng Lâm







