Biên phòng - Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc, miền núi là một nhiệm vụ quan trọng vì xã, phường, thị trấn là nơi gần dân nhất, nơi tổ chức thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, đây là một công việc rất khó bởi chính những khó khăn nội tại rất riêng của vùng, đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Câu chuyện ở Mường Nhé là một ví dụ.
![]() |
Một góc bản Tả Kó Khừ, xã biên giới Sín Thầu, huyện Mường Nhé |
Theo Nghị định 92/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách, tối thiểu mỗi xã được bố trí 21 cán bộ, công chức và 19 người hoạt động không chuyên trách. Như vậy, để có đủ cán bộ của 16 xã, huyện Mường Nhé cần 336 cán bộ, công chức xã và 304 người hoạt động không chuyên trách. Đồng chí Pờ Diệp Sàng-Bí thư huyện uỷ cho biết: Đến nay, Mường Nhé có 257 cán bộ, công chức xã, còn thiếu 79 người; Cán bộ hoạt động không chuyên trách thiếu 71 người.. Tổng cộng về số lượng thiếu 150 người.
Về tổ chức cơ sở đảng và đảng viên, Mường Nhé còn 127/153 bản chưa có chi bộ, 59 bản, 5 trạm y tế xã chưa có đảng viên. Việc có tới 2/3 số thôn, bản không có chi bộ và còn 59 bản không có đảng viên khiến vai trò hạt nhân lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, tính tiên phong, gương mẫu, đi trước làm gương cho dân bản noi theo của người đảng viên không được phát huy, ảnh hưởng trực tiếp đến việc triển khai, tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở.
Vấn đề thứ hai đối với Mường Nhé là tăng dân số từ di dân tự do và tăng thôn, bản. Khi mới thành lập, huyện có 2 vạn dân sinh sống tại 106 bản. Nay đã là 6 vạn dân của 153 thôn, bản. Trong vòng 13 năm, từ 1998 đến tháng 3/2011, có 6.584 hộ, bằng 41.134 khẩu di cư vào Mường Nhé. Dân di cư tự do chiếm tới ¾ dân số toàn huyện, chủ yếu là người Mông từ các nơi khác đến. Đồng bào vào cả vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé phá rừng làm nương, canh tác vài ba năm lại đi nơi khác, gây khó khăn cho công tác quản lý xã hội trên địa bàn, nhất là việc quản lý nhân khẩu, hộ khẩu và phá vỡ quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, làm lãng phí sự đầu tư cơ sở hạ tầng của Nhà nước.
Đồng chí Lò Văn Sung-Bí thư Đảng uỷ xã Nậm Kè cho biết: Bộ máy của xã đến nay mới bố trí được 17/21 định biên theo quy định của Chính phủ. Hiện đang thiếu 4 vị trí: cán bộ Địa chính, Tư pháp-Hộ tịch, Văn hoá-Xã hội và Văn phòng. Với xã vùng cao, diện tích tự nhiên rộng tới 15.392,35 ha, địa hình rừng núi hiểm trở, từ trung tâm xã đến bản xa nhất phải đi cả ngày trời, dân số phần nhiều là dân di cư tự do thì việc thiếu những vị trí cán bộ, nhất là cán bộ địa chính, tư pháp-hộ tịch thì công việc đăng ký nhân khẩu, hộ khẩu, nắm tâm tư, nguyện vọng của người dân ai làm. Vậy nên, ở Mường Nhé, người dân di cư tự do chưa được đăng ký hộ khẩu, hộ tịch còn nhiều.
Xã, phường, thị trấn là nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội và có ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của đất nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cấp xã là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ương khoá IX về đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn xác định: "Hệ thống chính trị cơ sở có vai trò quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế-xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.
Vùng miền núi, dân tộc hiện là địa bàn khó khăn nhất của cả nước, kinh tế-xã hội phát triển chậm, là nơi cần những cán bộ năng động, sáng tạo, có năng lực chuyên môn và kinh nghiệm để đưa những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống nhiều khó khăn thì trình độ của cán bộ lại đang bất cập nhất. Đó là còn chưa kể đến những khó khăn đặc thù mà cán bộ vùng miền núi, dân tộc phải đối diện như: địa bàn rộng, giao thông khó khăn, dân trí thấp, quan hệ dòng tộc, làng bản tác động…Từ câu chuyện ở Mường Nhé cho thấy sự cần thiết phải quan tâm củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cơ sở. Phải công phu tìm chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc thiểu số tại chỗ, đảm bảo tỷ lệ cân đối, hài hoà với cơ cấu dân số, dân tộc trên địa bàn, phấn đấu dân tộc nào cũng có người đại diện trong hệ thống chính trị cơ sở. Ở những nơi thiếu cán bộ tại chỗ, nhất là xã vùng sâu, vùng xa, biên giới cần tăng cường cán bộ từ tỉnh, huyện về công tác. Chúng ta đã có kinh nghiệm từ thực tế đưa sỹ quan biên phòng làm Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ các xã biên giới mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần ổn định tình hình, phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng lề lối làm việc tại địa phương, rất cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện giải pháp này.
Trong Đề án tuyển chọn 600 tri thức trẻ về làm Phó Chủ tịch xã của 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ, rất mong cơ quan chủ trì đề án có sự ưu tiên về số lượng cho các xã đặc biệt khó khăn, thiếu cán bộ như ở Mường Nhé. Với những cán bộ đến công tác tại địa bàn miền núi, dân tộc nhất thiết phải được học, phải nắm, hiểu những phong tục, tập quán của đồng bào, của địa phương, coi đây là một yêu cầu bắt buộc. Đồng thời phải có chế độ chính sách thu hút, đãi ngộ phù hợp đối với cán bộ công tác tại vùng miền núi, biên giới, dân tộc.
Về tổ chức cơ sở đảng, phải phấn đấu để hầu hết thôn, bản có chi bộ; Phải tập trung làm tốt công tác phát triển đảng viên mới; Chú trọng phát triển đảng từ đoàn viên thanh niên ở thôn, bản và trong số quân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, sinh viên tốt nghiệp ra trường trở về địa phương; Tăng cường phát triển đảng trong lực lượng giáo viên, cán bộ y tế thôn bản, công an viên, dân quân tự vệ để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.
Coi trọng và đề cao vai trò của già làng, trưởng bản. Trưởng thôn, bản do dân bầu, vừa đại diện cho nhân dân, vừa đại diện cho chính quyền cơ sở để thực hiện một số nhiệm vụ hành chính tại địa bàn. Ở những nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số, cần phải coi trọng vai trò của già làng, trưởng dòng họ, người có uy tín, tạo điều kiện để các già làng, trưởng dòng họ, người có uy tín làm trưởng thôn, bản.
Tập trung đầu tư phát triển nhanh, bền vững kinh tế-xã hội vùng miền núi, dân tộc thông qua những chính sách, chương trình, dự án là đòi hỏi khách quan của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Song nhân tố cơ bản quyết định kết quả đầu tư, hiệu quả của các chính sách, chương trình, dự án là năng lực, trình độ và trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền cơ sở, của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở. Do vậy, phải tập trung xây dựng cho được hệ thống chính trị ở cơ sở đảm bảo chất lượng, số lượng, có cơ cấu phù hợp. Vấn đề căn cơ nhất là tìm cho được cơ chế điều hành để hệ thống chính trị cơ sở, mà cụ thể là những thành viên trong hệ thống chính trị cơ sở ấy phải gần dân, sát dân, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của người dân cùng những thuận lợi, khó khăn ở từng thôn, bản, từ đó bàn tìm giải pháp phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.








