Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 07:41 GMT+7

Những vần thơ ký thác biên cương

Biên phòng - Biên cương, hải đảo - những vùng lãnh thổ vô cùng thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Từ muôn đời nay, bao thế hệ nhân dân, chiến sĩ đã đổ mồ hôi, xương máu để gìn giữ vẹn tròn bờ cõi của đất nước. Đấy là nguồn cảm hứng dạt dào cho nhiều người cầm bút, trong đó có các nhà thơ. Đã có không ít bài thơ giàu chất sống, nhiều cảm xúc viết về biên giới, hải đảo mà người lính quân hàm xanh là nhân vật trung tâm.

Trong tâm hồn mỗi người dân, tình yêu biên giới luôn là phần sâu sắc không gì có thể thay thế được. Mỗi dòng suối, ngọn núi ở đây, dù bé nhỏ đến đâu cũng là Tổ quốc, là tài sản vô giá ông cha ta để lại. Những dân binh, chiến binh muôn đời nay đã kế tiếp nhau bền bỉ, can trường giữ gìn cương vực. Hình ảnh hoa lau trong thơ Chế Lan Viên là một ẩn dụ đẹp về tinh thần đó: Ai lên biên giới cho lòng ta theo với/Về với ngàn lau chỉ trắng có một mình/Những ngàn lau đứng canh cho bờ cõi/Suốt một đời cùng với gió giao tranh (Lau biên giới).

Vùng đất, vùng biển phên dậu mãi mãi là ký thác thiêng liêng và vững bền của nhân dân về sự toàn vẹn lãnh thổ và trường tồn của đất nước. Xưa cũng thế và nay cũng thế; không thế lực nào, dù hung bạo mưu mô đến mấy làm suy suyển, dập tắt được. Nguyễn Đình Chiến trong bài thơ “Mùa xuân nơi hẹn gặp” đã viết: Biên cương ơi ký thác của bao đời/Người sống để cháu con về hái lộc/Thơ đã viết đầm đìa trên cột mốc/Câu thơ nào tâm huyết của riêng tôi… Nói đến biên phòng không thể không nhắc đến những cột mốc hữu hình và vô hình trên những cánh rừng, dòng sông hay vùng biển đảo xa xôi. Người lính biên phòng cũng là những cột mốc chủ quyền của đất nước, cũng như Tổ quốc là điểm tựa vĩnh hằng của chiến sĩ ta. Bằng tâm thức như vậy, Vũ Hiệp Bình đã khẳng định: Với Tổ quốc, chúng tôi là cột mốc/Với chúng tôi, Tổ quốc là điểm tựa ngàn đời (Tổ quốc, biên giới và chiến sĩ biên phòng). Không gì đẹp hơn khi những chiến sĩ mang quân hàm lá cây là núi của núi, là sông của sông, là ruộng của ruộng, là đất của đất, là nước của nước nơi cương vực: Đất vẫn đất nâng cao thế đứng/Và đồng đội chúng tôi/Như cột mốc ngàn đời/Làm biên giới đất đai (Vương Trọng - Sáng chào cờ ở một đồn biên phòng). Con đường trập trùng, đầy gian nan thử thách mà những người lính ấy đi qua là những hành trình đỏ gìn giữ bình yên và gieo mầm cuộc sống mới nơi biên cương như Phạm Vân Anh đã phác họa rất đẹp: Đèo Sa Mù mây bay/ Chúng tôi đi trong hành trình đỏ/Gieo xuống đất biên thùy hạt ban mai rực rỡ (Hành trình đỏ). Ở một góc nhìn khác của Phạm Thanh Khương, hành trình đỏ ấy mang những thương nhớ lo toan, khao khát ước mong của người lính hải đội biên phòng trên biển: Những con tàu xé sóng ra đi/Để lại bãi bờ những nét cười giấu trong nỗi nhớ/Giấu lo lắng trong từng nhịp thở/Nuôi ước mơ, nuôi khao khát con người (Qua triền con sóng)…

Có đến với bộ đội biên phòng mới thấu hết những khó khăn vất vả và những thiệt thòi, hi sinh thầm lặng của họ. Mỗi bước đi là mỗi gian lao, mỗi ngày sống là mỗi thử thách trước khắc bạc thiên nhiên, trước nghiệt ngã cuộc sống. Thơ Nguyễn Đức Lợi cho ta một hình dung về mùa hè tây bắc đất nước, nơi chưa bao giờ vắng bóng chiến sĩ biên phòng: Nay biên giới đang vào mùa bọ chó/Ruồi vàng bay rám cả vạt giang/Tai nóng giẫy từng cơn, từng cơn gió/Từ bên kia đất bạn đốt sang (Thư gửi từ biên giới). Trần Đăng Khoa có cái nhìn rất sâu, rất cảm và đầy chia sẻ nhân văn về những người lính biên phòng ở nơi núi cao heo hút: Những mùa đi thăm thẳm/Trong mung lung chiều tà/Có bao chàng trai trẻ/Cứ lặng thinh mà già (Đỉnh núi). Đâu chỉ trong chiến tranh mà ngay cả thời bình, người lính vẫn phải chịu những thiệt thòi, lặng lẽ cống hiến hi sinh tuổi thanh xuân cho đất nước. Cuộc sống đời thường của người lính biên phòng cũng đầy gian khổ, thiếu thốn. Trong một lần lên biên cương, Hữu Thỉnh đã xúc động viết: Gạo thường lên sớm, thư thời chậm/Đài mở thâu đêm đỡ vắng hầm/Bao năm không thấy màu con gái/Vó ngựa nghe nhầm tiếng guốc em. (Thư mùa đông). Cái sự nhầm kia của người lính trẻ làm cho ta nghẹn ngào rưng rưng. Trong bài thơ “Trở về Bát Xát”, Lê Đình Cánh lại giúp ta thấy rõ hơn cảnh ngộ, gọi là thân phận cũng được của một cán bộ biên phòng: Về đâu bác trưởng đồn thâm niên thượng úy/Ngôi sao cầu may chưa đậu xuống vai già/Thân gà trống ngại ngùng đi bước nữa/Điếu cày khuya lưỡng lự vào ra! (Trở về Bát Xát)…

Giữa muôn vàn thử thách gian khó, hình ảnh chiến sĩ biên phòng hiện lên thật đáng yêu, đáng trân trọng. Những người lính ấy, vừa là chiến sĩ, vừa là thầy giáo, thầy thuốc và cũng là cán bộ thôn bản nữa. Thầy giáo biên phòng hiện lên trong thơ Trương Hữu Thiêm thật bình dị và gần gũi: Chấm bài nào thầy cũng cho điểm cao/Nếu không thế mai họ không đến lớp/Bài văn tả có người hồn nhiên viết/ “Thầy giáo biên phòng chăm như con trâu” (Lớp học biên phòng). Lính biên phòng là những người rất tình cảm. Tôi đã đến nhiều đồn biên phòng ở cả ba miền Bắc Trung Nam và cả biển đảo nên rất thấu hiểu điều đó. Những gì tôi cảm nhận được trong thơ viết về các anh trước hết bắt nguồn từ hồi ức kỷ niệm về bộ đội biên phòng sau các chuyến lên rừng xuống biển rất nhiều ấn tượng. Vì thế, tôi đồng cảm với Nguyễn Đức Nhuận trong bài “Màu đỏ miền Đông”: Trận địa miền Đông bịn rịn cánh cò/Công sự đỏ ngụy trang bằng màu đỏ/Dù đi đâu trai biên phòng vẫn nhớ/Nhận ra nhau qua màu áo riêng mình; của Doãn Tấn trong “Bài thơ tháng Ba”: Tháng ba đồng đội tôi ơi/Non xanh nước bạc ai người có nhau; của Nguyễn Xuân Thái trong bài “Sang suối”: Tôi bâng khuâng nhìn lại bóng mình/Mỗi một lần sang suối/ Dòng chảy nào cong hình dấu hỏi/ Trong xanh quá thôi sao chẳng dễ trả lời; của Trần Lâm Bình trong bài “Chốt biên phòng”: Chốt biên phòng/Đường lên trời thì gần/Đường xuống chợ thì xa/ Mỗi lần tuần tra/Lính biên phòng gỡ mây giăng đầy tiếng mõ…

Có lẽ vì thế mà tôi cũng đã viết bài “Vợ lính biên phòng” trong lần lên đồn Bạch Đích (Hà Giang) năm 1998, có những câu: Gần chồng chẳng được mấy khi/ Xa chồng, lại nhớ ngày đi thăm chồng/Đường lên dựng núi nghiêng sông/ Cổng trời mây trắng bềnh bồng bám theo… và : Gặp chồng bao nỗi rưng rưng/Lời yêu thương lại ngại ngùng nói ra/Bâng khuâng chuyện xóm, chuyện nhà/Chuyện con nhớ bố, chuyện bà nhớ anh… Nói sao hết những ngọn ngành/Về xuôi đôi chuyện dữ lành vướng theo/Ngước nhìn dáng đá cheo leo/ Bóng xưa đổ xuống đỉnh đèo mây bay…

Tôi nghĩ, thơ đã ký thác vào biên cương những yêu thương, khát khao và hy vọng của chúng ta!

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý

Bình luận

ZALO